Mai này còn chút tri âm
Mình ru cho hết thăng trầm mới thôi
--------------------------------------------------------
NGUYỄN NGỌC HẠNH
Bút danh : Vương Hạnh
Quê quán :Quảng Nam
Hội viên Hội nhà văn Tp Đà Nẵng
Hội viên Hội nhà báo Việt Nam
Nguyên Trưởng Vp báo Diễn đàn Doanh nghiệp tại MT&TN
Nguyên Trưởng Vp báo Công nghiệp Việt Nam tại MT&TN
Nguyên Trưởng Vp Tạp chí Vib. Forum tại MT&TN
Hiện là Trưởng đại diện báo Công thương Việt Nam tại miền Trung
---------------------
Tác phẩm đã in :
Hoa ven sông - thơ - ( in chung )
Cánh cửa mở - thơ - ( in chung )
Khi xa mặt đất ( thơ ) 1997, NXB Đà Nẵng
Biết làm sao khác được, sau những hình ảnh Buổi tưởng nhớ nhà báo, nhà thơ Đặng Ngọc Khoa đêm mùng 4 tháng 12 chưa hết những dòng comment tiếc thương của bè bạn khắp nơi gửi về với những dòng chữ chất chứa biết bao tiếc thương và lòng mến trọng; nay đến lượt Nguyễn Trung Bình, một thi sĩ đặm đặc hồn vía đất Quảng cũng ra đi, đi mãi...để lại trong lòng anh em bè bạn những tình cảm yêu thương vô bờ, kính phục. Đêm nay (12/12/2009), ngay tại ngôi nhà thân yêu của mình, nhà thơ Nguyễn Trung Bình đã hội ngộ, cụng ly rượu trần gian cuối cùng với bạn bè văn nghệ ở quê nhà. Tuy còn thiếu vắng, vài người ở gần mà không về kịp, nhưng cũng có anh em ở xa tận Tp HCM và Thừa Thiên Huế lại có mặt đủ đầy trong đêm tiễn biệt. Làm sao có thể kể hết những nghĩa tình sâu nặng, những giọt nước mắt ngậm ngùi trong đêm chia tay này. Rồi đây, khi chúng ta gõ tên Nguyễn Trung Bình trong google hoặc bất chợt đâu đó sẽ gặp anh trên các trang báo với những bài viết đầy niềm thương tiếc của bạn bè văn nghệ về hình ảnh Trẻ dáng nâu xưa. Phần mình, sau khi tạm biệt Thị Trấn Nam Phước, Duy Xuyên, chia tay Nguyễn Trung Bình lần sau cuối, tôi về Đà Nẵng đã đúng 12 giờ khuya, rồi ngồi vào máy, vội chuyển một số hình ảnh này đến các bạn, những người yêu mến nhà thơ Nguyễn Trung Bình xa gần để các bạn biết rằng đêm nay anh đã ấm áp được yên nghỉ nơi quê nhà với bao tình yêu thương của gia đình và bè bạn trong đêm tưởng nhớ đầy xúc động này.
Quang cảnh ngôi nhà Nguyễn Trung Bình trước Đêm tưởng niệm
Vợ của nhà thơ Nguyễn Trung Bình
Nhà thơ Phùng Tấn Đông dẫn chuyện...
Trần Tuấn đọc lại bài trả lời PV của Nguyễn Trung Bình về phim Cyclo
Huỳnh Lê Nhật Tấn đọc thơ tặng Nguyễn Trung Bình
Anh Thiều Quang Ánh, thầy giáo thời cấp một của nhà thơ Nguyễn Trung Bình
Anh Ngọc San, một người bạn từ Tp HCM về Duy Xuyên đọc thơ, nhớ Nguyễn Trung Bình
Nhà thơ Từ Dạ Thảo đọc thơ tiễn biệt Nguyễn Trung Bình
Nhà văn Hồ Trung Tú ( bên phải) kể chuyện về Nguyễn Trung Bình
Nhà văn Lê Trâm nhớ Nguyễn Trung Bình
Nhạc sĩ Phan Văn Minh đang hát Trẻ dáng nâu ( phổ thơ Nguyễn Trung Bình )
Trần Thiên Thị đang nhắc lại vài kỷ niệm với Nguyễn Trung Bình những ngày còn sống...
Phùng Tấn Đông đọc Bài của trẻ dáng nâu ( thơ Nguyễn Trung Bình )
Phó TBT Tạp chí Đất Quảng, nhà thơ Phan Chín đang kể lại chi tiết anh em văn nghệ Quảng Nam chờ đón chiếc xe tang đưa Nguyễn Trung Bình từ Tp HCM về, ngang qua Tam Kỳ
Nhà thơ Phạm Nguyên Tường, Chủ tịch Hội Nhà văn Tp Huế, người bạn xa quê thời sinh viên đọc thơ tặng bạn Nguyễn Trung Bình
Nguyễn Ngọc Hạnh đọc " Ngày trở lại ", bài thơ Bình rất yêu thích .
Nhà thơ Nguyễn Tấn Sĩ đọc"Hai đầu nỗi nhớ" để tiễn biệt N.T. Bình
Phạm Tấn Dũng đọc thơ & chạm cốc với Nguyễn Trung Bình
Nguyễn Trung Việt, anh ruột của Nguyễn Trung Bình xin cảm tạ mọi người đã chia sẻ với gia đình anh !
cuộc chơi lắm thứ vui buồn nhưng cũng phải dừng thôi !...
Nhà thơ Nguyễn Trung Bình sinh năm 1968 tại Hội An. Quê gốc : Thị trấn Nam Phước, Duy Xuyên, Quảng Nam
Hội Viên Hội Nhà Văn Thành Phố Hồ Chí Minh
Tác phẩm :
Miền Mây Trắng (Thơ 4 tác giả, NXB Đà Nẵng,1994)
Bài của trẻ dáng nâu ( Thơ, NXB văn nghệ TP.HCM, 1996);
Đồng tác giả Lời thọai kịch bản CYCLO ( giải sư tử vàng liên
hoan phim Venise, 1995 - Đạo diễn Trần Anh Hùng )
Tác giả các phim tài liệu :
Cao su Đồng Nai (Hãng phim TSTL TP.HCM.1997)
Rối nụ cười ( Hãng phim Nguyễn Đình Chiểu,1998)
Thánh Địa Mỹ Sơn ( Cùng biên sọan, NXB Lao Động, 2005)... Anh từ trần đột ngột hồi 18:00 ngày 10.12.2009 tại Sài Gòn, hưởng dương 41 tuổi . Sáng nay, 11/12/2009, Nguyễn Trung Bình trở về quê trên chiếc quan tài sau gần 20 năm lưu lạc ở Sài Gòn. Cám ơn anh Hạnh Cám ơn Anh đã post lên kịp thời hình ảnh ( về Đặng Ngọc Khoa ) để anh em ở xa xem được; sẽ liên lạc sau Anh nhé ! Nguyễn Trung Bình ---------------- Viết bởi Nguyễn Trung Bình 08:04-2009-12-07
Comment trên đây, Nguyễn Trung Bình viết cho Entry "Hình ảnh đêm cuối cùng với Đặng Ngọc Khoa" trên blog này, hồi 8h ngày 7/12/2009. Mới đó thôi, mà anh đã theo Đặng Ngọc Khoa đi rồi. Tôi còn nhớ, tối hôm ấy, trong khi anh em văn nghệ, bạn bè thân thiết của Khoa đang quầy quần trước linh cửu của anh tại nhà riêng để cùng chạm cốc lần sau cuối với Khoa, cùng hát và cùng đọc thơ với Khoa trong đêm tiễn biệt, thì nhà thơ Trần Tuấn, tác giả Ma thuật ngón cứ đi đi lại lại, loay hoay với chiếc điện thoại trên vai mình, tay thì ghi chép lia lịa như thói quen tác nghiệp của một nhà báo mọi ngày. Sau đó, Tuấn bảo tôi : Anh Hạnh ơi, Nguyễn Trung Bình muốn được đọc thơ qua điện thoại để tặng Khoa, nhưng không có máy móc âm thanh thế này thì làm sao đây anh! Cuối cùng Nguyễn Trung Bình yêu cầu Trần Tuấn chép lại qua điện thoại và nhờ Trần Tuấn đọc hộ bài thơ ấy trước linh cửu của Đặng Ngọc Khoa. Hình ảnh dưới đây được ghi lại, coi như là một kỷ niệm đẹp cuối cùng giữa chúng tôi, giữa những người bạn một thời, giữa những người làm thơ xứ Quảng. Còn tôi, liên lạc sau với bạn, là bao giờ đây hỡi Nguyễn Trung Bình ?!
Nhà thơ Trần Tuấn đang đọc thơ Nguyễn Trung Bình ( từ Tp HCM điện thoại về )
TRÒ CHUYỆN VỚI HUỲNH LÊ NHẬT TẤN VỀ CHUYẾN ĐI CUỐI CÙNG CỦA ĐẶNG NGỌC KHOA
buổi chiều miền Trung u ơ...u ơ sóng biển & gió
Khoa nói cuộc đời đơn giản như một cuộc đi
hai thằng em trố mắt nhìn không hiểu
lời kia & thời gian có hẹn
sóng cứ vỗ ầm chiều...
Khoa bảo đó là âm thanh cõi lạ gọi con người không
nghe hay thấu hiểu
cần có những buổi chiều ngồi nghe
chứ không phải chiều 2.12.2009 (*)
chẳng cần thiết lời có cánh khi một người như Khoa bỏ dở
cuộc chơi nghiệt ngã
mắt Khoa vẫn mở nhìn cuộc sống quá nhiều hệ lụy
vẫn quay quắt nao lòng một lần đến Cà Mau (**)
không như kẻ đi hoang
Khoa cười hồn nhiên trước biển
nụ cười ấy không ăn nhập gì với búi tóc khô đã có lần mốc
nhưng biển Mỹ Khê & bạn bè Đà Nẵng
chẳng khi nào thấy được
Khoa cứ cười hồn nhiên & tự nhảy múa một mình trên mũi
biển Cà Mau
lúc này hoặc mai sau
nhớ hay quên là lẽ thường tình
chỉ biết một chiều đông Khoa nói với biển gió lớn
cuộc chơi lắm thứ vui buồn nhưng cũng phải dừng thôi !...
Nhà thơ Đông Trình : Không trái tim ai ngừng đập trên đời
...Có một sự lạ trong tầm nhìn của tôi. Là việc Khoa tự bỏ học để cùng một số anh em đồng chí tìm đường lên núi! Tinh tế và mẫm cảm thì đã đành, nhưng ở đâu trong trái tim ấy vẫn thường xuyên le lói ánh sáng của chân lý? Chính từ Khoa và một số bạn bè của anh đã va đập, tung quẫy dữ dội, tạo nên cảm hứng bất ngờ cho tôi có những bài thơ như " Hoa đã hướng dương" ngày ấy :
"Trước ngày ra đi
Em đến thăm tôi vào lúc mấy giờ đêm?
Cửa tôi đóng . Và ánh đèn
Đã tắt
Tôi đang ở xa, tôi không có mặt
Nhưng lòng tôi vẫn mở ngõ
chờ em
Nhưng đời tôi vẫn trang sách một ngọn đèn
Mà dưới bước em đi
Đã bùng lên vô cùng rực rỡ..."
Lại nói về thơ của anh. Một con người như thế lại làm thơ không nhiều. " Thầy ơi! Em lâu nay làm được vài bài nho nhỏ, định biên tập lại mớ thơ cũ nhưng cảm thấy mệt mỏi và chán nản. em phản đối ai bảo rằng làm thơ dễ hơn viết văn, chỉ dễ với những ai không tự nghiêm khắc với chính mình...'
Đánh giá về Khoa! Thì cũng sắp đánh giá được rồi. Thôi thì để cho cuộc đời vậy.
Nhà văn Hồ Trung Tú đang đọc " Ghe đi để lại dấu dầm" cho Khoa
...Trong thơ Khoa, câu thơ hình như phản ảnh đúng con người Khoa nhất là câu nói về Thủ Thiệm "Ông bỡn cợt ông, ông bỡn cợt đời". Khoa hình như cũng vậy, anh vui đùa bỡn cợt, và đem niềm vui đến cho mọi người trong suốt cả cuộc đời mình. Bận tâm làm gì chuyện để lại tác phẩm cho đời Khoa nhỉ. Ông bà mình xưa đã có câu "ghe đi để lại dấu dầm". Dấu dầm thoáng hiện đó rồi mất, đời người 50 năm hay 70 năm xét ra cho cùng cũng chỉ là dấu dầm thoáng hiện ra đó rồi mất. Ai muốn níu kéo thì chụp ảnh dấu dầm mà để lại, Khoa và nhiều người nữa chẳng cần làm vậy, dấu dầm đã hiện lên dưới ánh trăng hay dưới trưa nắng gắt, tự nó đã thật đẹp rồi. Cả cuộc đời Khoa hình như muốn minh triết, chữ dạo này nhiều người dùng, điều ấy. Nhà báo Lê Đức Hùng, Phó Trưởng diện báo Thanh Niên tại Đà Nẵng mở đầu đêm sinh hoạt tưởng nhớ Đặng Ngọc Khoa, tối ngày mùng 4/12/09.
Bác sĩ Lê Sơn hát Cát và tôi, thơ Hoàng Tư Thiện do Tống Hữu Hạnh phổ nhạc để nhớ Khoa. Đây là bài hát mà lúc sinh thời Khoa rất thích.
Nhạc sĩ Trần Ái Nghĩa đang Ngẫu hứng Măng Đen - phổ thơ Đ. N. Khoa
Nhạc sĩ Nguyễn Đức kéo Violon Một cõi đi về của Trịnh Công Sơn
Xuân Huyền đang hát Về mái nhà xưa, nhạc sĩ Nguyễn Đình Thậm đệm đàn
Nhà báo Nguyễn Khoa Chiến đang kể về Đặng Ngọc Khoa trong những ngày lang bạt với mình : ...
Chỉ có điều vẫn còn đó một niềm an ủi. Đó là dù cuộc đời và tình thế xã hội có làm bầm dập những người như mi tới đâu thì mi vẫn giữ được một trái tim trong sáng cho đời. Cái áo không làm nên thày tu, chức tước, danh vị không đủ nói lên nhân cách. Mi cũng chỉ là một nhà báo "quèn", nhưng bản lĩnh thể hiện qua các phóng sự gây ảnh hưởng lớn đến quyết sách của những nhà điều hành xã hội, những bài viết về những phận người, những cảnh đời làm lay động lòng người, cuốn hút sâu rộng đến sự đồng cảm của cộng đồng đã thành chân dung của một tên tuổi, dấu ấn của một tấm lòng... Cái danh hiệu "nhà thương tâm học" anh em đồng nghiệp gắn vô cho mi để chọc vui ẩn chứa sự đồng tình thừa nhận vai trò không dễ thay thế của mi trong khả năng khơi gợi lòng hảo tâm nơi mọi người.
Nhà thơ Phùng Tấn Đông đang " Dốc ngược ký ức ", nhớ Khoa !
...Khoa là người nhạy cảm, nhạy cảm đến yếu đuối trước bao nhiêu dâu bể phận người, nhất là những khoảng tối ghê rợn dưới bóng những đời riêng mà Khoa nhận biết. Thơ chính là nơi Khoa gởi gắm bao nhiêu nỗi ưu thời, mẫn thế... Thơ Khoa ẩn đằng sau thể dạng "cổ điển" là nội lực tiềm tàng, những "biến tấu" ngang xương - kiểu nói người Quảng - đầy chủ đích nhằm thoát khỏi tính nhạc đã mòn nhàm... Khoa có bụng "liên tài", luôn ủng hộ cái mới, những người trẻ tuổi, những giọng điệu trẻ và đặc biệt với thơ, Khoa luôn khước từ mọi sự nghiêm trọng...
Nhà thơ Trần Tuấn đang đọc thơ Nguyễn Trung Bình ( từ Tp HCM điện thoại về )
TRÒ CHUYỆN VỚI HUỲNH LÊ NHẬT TẤN VỀ CHUYẾN ĐI CUỐI CÙNG CỦA ĐẶNG NGỌC KHOA
buổi chiều miền Trung u ơ...u ơ sóng biển & gió
Khoa nói cuộc đời đơn giản như một cuộc đi
hai thằng em trố mắt nhìn không hiểu
lời kia & thời gian có hẹn
sóng cứ vỗ ầm chiều...
Khoa bảo đó là âm thanh cõi lạ gọi con người không
nghe hay thấu hiểu
cần có những buổi chiều ngồi nghe
chứ không phải chiều 2.12.2009 (*)
chẳng cần thiết lời có cánh khi một người như Khoa bỏ dở
cuộc chơi nghiệt ngã
mắt Khoa vẫn mở nhìn cuộc sống quá nhiều hệ lụy
vẫn quay quắt nao lòng một lần đến Cà Mau (**)
không như kẻ đi hoang
Khoa cười hồn nhiên trước biển
nụ cười ấy không ăn nhập gì với búi tóc khô đã có lần mốc
nhưng biển Mỹ Khê & bạn bè Đà Nẵng
chẳng khi nào thấy được
Khoa cứ cười hồn nhiên & tự nhảy múa một mình trên mũi
biển Cà Mau
lúc này hoặc mai sau
nhớ hay quên là lẽ thường tình
chỉ biết một chiều đông Khoa nói với biển gió lớn
cuộc chơi lắm thứ vui buồn nhưng cũng phải dừng thôi !...
Một chút hồn quê nơi phố xá Ai bỏ quên cuối vạt nắng chiều
Không ngờ hai câu thơ của tôi lại bỏ quên nơi góc quán này! Tình cờ tôi ghé lại đây, trên con đường lớn giữa thành phố bên sông Hàn này lại mọc lên một cái quán Nhà Quê nho nhỏ. Ai chẳng sinh ra từ một làng quê nào đó, chính vì thế khi gặp lại một chút hồn quê nơi phố xá thường dễ làm cho người ta lay động, nhớ về tuổi thơ ngày xưa của mình. Mấy người bạn văn nghệ của tôi ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh về Đà Nẵng chơi, đều ghé lại đây. Dường như cái vẻ mộc mạc đầy quyến rũ từ cái không gian trong lành ấy, ẩn chứa biết bao hoài niệm ấu thơ của mỗi đời người, bỗng chốc hiện về trong quán nhỏ, nó gợi lên biết bao kỷ niệm về làng quê, nơi đã ôm ấp tuổi thơ với hương đồng rơm rạ...
Cái làng ấy ra đi cùng tôi Mà tôi nào hay biết Chỉ mỗi điều giữa câu thơ tôi viết Con sông quê, bóng núi cứ chập chờn Xưa, tôi sống trong làng Giờ, làng sống trong tôi
Từ cái làng với con sông quê, từ những món ăn nhà quê ấy, nào là bánh đúc bùi bùi chấm nước mắm nhĩ, nào đĩa gà tre Quế Sơn với muối tiêu trộn rau răm thơm phức. Ăn miếng bánh đúc làm tôi nhớ mẹ tôi. Đây là đặc sản của xứ Quảng, là món ăn rẻ tiền nhất mà mẹ dành cho bọn trẻ chúng tôi ngày xưa. Cho tới bây giờ, tôi vẫn còn nhớ đủ đầy cái hương vị, nhất là mùi dầu phụng chín thơm lừng rắc với ít lá hành trên chiếc bánh tròn màu nâu nâu ấy. Các món ăn ở Nhà Quê chế biến từ đặc sản sắn của miền Trung mới nghe đã thèm, nào lươn đùm lá chuối; cá đồng, cá nục hấp, quấn với bánh tráng sắn và rau muống tươi. "Nhà Quê" mới ra phố mà đã để lại nhiều ấn tượng với những ai đã từng có một thời sống với làng quê, từng ăn những món ăn dân dã, đầy hương vị quê nhà!
Quán nằm ngay trên con đường Nguyễn Thị Minh Khai đông vui của thành phố Đà Nẵng. Một không gian tuy chưa phải là nơi lý tưởng, đúng nghĩa với "nhà quê", nhưng ít nhiều cũng gợi lên cho khách thập phương một chút không gian, tĩnh lặng và lãng mạn khi ngồi bù khú bên nhau trên tấm phản gỗ cổ xưa, trong tiếng guitar thùng nhỏ nhẹ lồng trong những hoài niệm về làng quê ngày xưa. Nhìn món ăn là lạ, một đĩa gà tre muối tiêu Quế Sơn trộn rau răm thơm phức; một tô bánh trôi nước xào rau muống tỏi đậm đà... Các món ăn dân dã ấy được chế biến từ đặc sản của đất "chưa mưa đã thấm", được các nghệ nhân lâu năm ở xứ Quảng này chế biến; tất cả đều mang hồn quê, chan chứa mùi vị của dân gian. Giữa phố xá đông người với bao nhiêu thức ngon vật lạ, đắt tiền, càng làm cho vẻ đẹp của những món ăn dân dã này thêm quyến rũ. Nói cho thi vị, hình ảnh một tí, đấy là vẻ đẹp của người con gái nông thôn giữa chốn thị thành! Điều lạ lẫm hơn, chủ quán này là một cậu con trai chưa đầy 30 tuổi, còn rất trẻ. Tuy nghề chính là cán bộ ngân hàng, nhưng chẳng biết vì lẽ gì mà Hà Phước Tuấn lại đam mê chuyện hoài cổ với những món ăn "nhà quê" ấy! Tuấn cười và nhỏ nhẹ với tôi rằng: Ai cũng ra đi từ một làng quê nào đó, mỗi người ít nhiều đều gắn với những món ăn thời thơ ấu của mình. Cho dù bây giờ họ đang sống sung túc ở thị thành, nhưng tình cờ gặp lại không gian "quê nhà" ấy, họ đều muốn quay về với cội rễ, đúng hơn là có dịp để họ nhận ra chính mình giữa cuộc đời này.
Tìm đâu ra cuối truông sâu Dấu chân xưa lấp trong màu thời gian Khơi lên từ đống tro tàn Biết còn không ánh trăng vàng ngày xưa
Trời đang nắng bỗng nhiên mưa Đâu đây có tiếng ai vừa gọi tôi Nửa nghe nhỏ nhẹ, xa xôi Nửa thân quen, ấy là tôi . Rất gần
Đầu ghềnh còn đứng phân vân Cuối truông lạc bước phong trần Về đâu ? Chân dò chưa hết nông sâu Đã quay lại với nhịp cầu chông chênh Sắc, không chân bước gập ghềnh Cõi mơ hồ ấy buồn tênh phận mình
Từ trong lục lạc vô minh Bày ra bao nỗi nhân tình, bể dâu Cuối truông về lại sông sâu Còn gì đây mối duyên đầu phôi phai
Thôi thì chân bước, dặm dài Chút tình xưa biết còn ai tỏ bày Một đời ngẫm lại, mới hay Chưa bao giờ được đắm say yêu người !
Trần Thiện Anh ĐỌC DƯỚI TRĂNG CÙNG KAZIK CỦA NGUYỄN NGỌC HẠNH Ông ngồi lặng yên không nói gì Mờ sương Mỹ Sơn trời khuya dần buông Gió ru lời xưa cỏ cây điêu tàn
Tôi đâu có nói gì cùng Kazik Mà sao đền tháp cứ nhìn tôi Mà sao vũ nữ Chăm ngưng múa hát Thần Shiva níu thời gian trôi dạt
Ông chạm vào đá hồi sinh Những mất đi, sanh nở Dưới lớp rêu mờ tỏ Lấp lánh hơi ấm bàn tay Chămpa trong đó
Những đền tháp và những vụn nát Giữa thung lũng trần gian Như con tò vò chằm vá cần mẫn Nỗi niềm say mê tạo tác
Phải chi tôi đừng nói gì Vầng trăng kia sẽ trò chuyện cùng ông Cổ tháp kia sẽ lặng lẽ cùng ông Về những đổ vỡ trinh bạch Những vụn nát đền đài
Ông ngồi lặng yên không nói gì Nhìn vầng trăng trên tháp Tạc câu ca Chăm lên ngực Chạm vào điệu múa đất đai
Làm sao có thể kiệm lời Trước thần Shiva và tượng mất đầu Giữa hằng hà thiện ác.
Bài thơ này làm tôi nhớ đến người kiến trúc sư Ba Lan tài hoa mà tôi có may mắn được gặp một lần bên tháp Chàm Mỹ Sơn lần tôi qua xứ Quảng. Và qua đó tôi biết ông đã dành cả phần đời còn lại để giúp Việt Nam phục chế, trùng tu lại những tháp chàm hoang phế bao đời. Bài thơ có 4 nhân vật: Kazik, Cổ tháp, Trăng và tác giả (tôi). Kazik ngồi không nói. Tác giả ngồi không nói. Cổ tháp điêu tàn như đang nói bằng đổ vỡ, như kêu cứu. Chỉ có Trăng trò chuyện cùng Kazik... Bài thơ như một vết cắt lưu giữ lại thời khắc tâm trạng của người kiến trúc sư muốn phục chế lại thời gian đã mất.
Bài thơ cứ dẫn dắt như một câu chuyện kể khách quan trộn lẫn trữ tình. Một trữ tình tự sự. Tác giả phân thân vào không gian huyền thoại:
Mờ sương Mỹ Sơn trời khuya dần buông Gió ru lời xưa cỏ cây điêu tàn... Vũ nữ Chăm ngưng múa hát Thần Shiva níu thời gian trôi dạt
Tác giả phân thân vào vầng Trăng để nhìn thấy đền đài đổ nát, những "đổ vỡ trinh bạch" để cảm thấu tỏ tường "con tò vò chằm vá" ... thời gian đã mất. Đấy là sự phân thân đầu tiên và cuối cùng nhập hồn vào Kazik để đọc được lòng ông:
Tạc câu ca Chăm lên ngực Chạm vào điệu múa đất đai
Vậy mà bài thơ lại như một độc thoại câm của người kiến trúc sư từ phương xa đến, làm cho người đọc tin rằng, chính cái đêm trăng bên tháp Chàm đổ nát ấy đã có thể dựng lên cả một quá khứ vàng son khi khổ thơ kết xuất hiện:
Làm sao có thể kiệm lời Trước thần Shiva và tượng mất đầu Giữa hằng hà thiện ác.
Tôi nghĩ bài thơ này hơi khác, lạ so với phần lớn thơ của Nguyễn Ngọc Hạnh, vì cấu trúc bài thơ này mang tính đa chiều, nó giống một cái tháp mà quay quanh nó, ta đọc được nhiều vẻ đẹp khác nhau. Lại có thể vì một cái tên Tây cũng làm cho cảm xúc người đọc khác đi, bởi tự thân chữ Kazik cũng khác với những Trung những Dũng quá quen thuộc với tôi. Hay là khi viết về Kazik, chính Nguyễn Ngọc Hạnh cũng muốn thơ mình tây tây một chút cho hợp với đối tượng trữ tình?
Dù sao đi nữa thì bài thơ DƯỚI TRĂNG CÙNG KAZIK cũng mang lại cho tôi một cảm giác khác khi đọc thơ Nguyễn Ngọc Hạnh, và nó để lại cho tôi một ấn tượng về Kazik, một con người từ xa đến đây và đã thực sự yêu đất nước tôi bằng chính công việc của mình như con tò vò chằm vá cần mẫn, người phục chế thời gian đã mất. Tháng 6.2009
Có một đêm nghe nhạc sĩ Trần Tiến hát, đúng hơn là tôi nghe anh độc hành với tiếng chim quê bằng tâm hồn của người nhạc sĩ hát rong hiện đại. Ôm đàn gõ nhịp với đời, từ năm 17 tuổi, Trần Tiến đã có không ít những ca khúc đầy ngẫu hứng in đậm trong tâm trí của nhiều người, nhiều thế hệ. Bài viết này chỉ muốn dừng lại về một Trần Tiến với Độc huyền cầm và Tiếng chim quê. Đây là hai ca khúc mà tôi may mắn được nghe tác giả hát lần đầu tiên với công chúng yêu âm nhạc ở Đà Nẵng đã lâu rồi. Rất tiếc là sau đó, không biết vì lẽ gì mà hai bài hát này lại ít thấy xuất hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng như các ca khúc nổi tiếng khác của anh (?) :
Độc huyền cầm buồn lắm Mấy ai người tri âm Độc huyền cầm lẻ loi Bay ngang cánh chim hồng
( Độc huyền cầm)
Vẫn những giai điệu, khúc thức đầy ngẫu hứng, vẫn là anh ấy thôi, nhưng người nghe đã nhận ra một Trần Tiến độc hành đi tìm tiếng chim quê nơi vườn cũ, một mình tìm lại những tháng năm đã mất, tìm lại đời mình:
Chiều trên phố nghe tiếng chim quê Chàng Trương Chi buồn nhớ quê nhà
( Tiếng chim quê)
Trương Chi vẫn còn lang thang nơi đất khách, chưa về? Bỏ dòng sông xa rời Mỵ Nương, bạn bè cũ quê nhà mờ sương. Tôi mơ hồ nhận ra sự đơn độc của người nhạc sĩ " hát rong" bao năm trên đời mà vẫn thiếu tri âm. Thường những lúc như vậy, ai cũng mong tìm về chốn cũ: Đời không đâu bằng chốn quê nhà. Tâm trạng của bài hát rất dễ đồng cảm với con người trong cơn lốc đỏ đen này, còn riêng anh thì vẫn độc hành, bao hơn thua, được mất ở đời mà chi, một khi con người cứ sắm vai trước nỗi cô đơn luôn ám ảnh, dằn vặt chính mình, Trần Tiến tri âm với "độc huyền cầm". Tôi là người ngọai đạo với âm nhạc, nên chẳng dám luận bàn gì về giai điệu khúc thức. Chỉ đồng cảm với ca từ mà thôi. Đây cũng là một trong những đòi hỏi cũng không mới lạ gì với công chúng yêu nhạc. Lời hát làm cho con người sống đẹp hơn, thức tỉnh và cao thượng hơn chứ không phải chỉ có những con chữ dễ dãi vô hồn chen vào giữa hai dòng nhạc. Mà ca từ trong nhạc Trịnh Công Sơn là một ví dụ. Làm sao mà ngồi yên, làm sao không chạnh lòng được khi nghe những lời hát:
Gió mây ngàn về đâu Cũng thu về một bóng Tráng sĩ ngồi lặng câm Độc hành độc huyền cầm
( Độc huyền cầm)
Ai cũng đi tìm cho riêng mình một khoảng trời, một nơi nương tựa. Nhưng mấy người gặp được tri âm. Có phải vì nỗi cô đơn ấy mà một chiều tháng năm ở Đà Nẵng, Trần Tiến thảng thốt khi nghe tiếng chim cu, làm anh nhớ quê nhà:
Chàng đi giữa phố phường lạnh giá Còn đâu nữa tiếng đàn ngày xưa... Tìm hạnh phúc gia đình yên ấm Ổ rơm khô khói lam sương mờ
( Tiếng chim quê)
Khi đau đớn, bơ vơ nhất người ta thường nhớ đến quê làng. Những rơm khô, khói lam sương mờ đôi khi lại giải thóat được nỗi đau ấy của người nghệ sĩ. Bởi chính đấy mới là nơi trở về sau những ngày lang thang giữa phố phường chật hẹp. Và mỗi lần như thế, người mẹ bao giờ cũng là nỗi nhớ day dứt:
Mẹ dặn con đừng hát khúc ca buồn Rồi tiếng hát vận vào đời con Con đâu có nghe... Chàng Trương Chi ôm sáo tre nằm chết bên hè.
( Tiếng chim quê)
Tiếng hát vận vào đời con mới sinh ra cái bi kịch ấy, mẹ ơi! Độc huyền cầm, cái đàn chỉ có một dây mà đã tạo ra bao nguồn vui se thắt bằng thứ âm thanh của riêng mình. Cũng như người nhạc sĩ ấy độc hành trên cõi đời thiếu tri âm, nhưng cứ lấp lánh, cứ cháy hết những gì trời đã ban cho mình. Cứ ca hát hết lòng với cuộc đời này, để rồi khi trở về làng cũ, người nhạc sĩ ấy lại thảng thốt, bơ vơ:
Tìm đâu nữa thiên đường mờ xa Đời không đâu bằng chốn quê nhà .
Ngày ba mươi tháng tư có bao nhiêu người như tôi và chị trưa nay trên đường phố bên sông Hàn. Bây giờ, tôi không còn ý định viết bài báo để đi tìm chị nữa, không phải vì tôi đã gặp người đàn bà buôn gánh thời xưa mà tôi gặp câu trả lời về nhân cách của người đời. Chị đã không biết buôn trong cái gánh của mình, chị biết từ chối và chọn lựa vì một điều cao cả.
Bỗng dưng tôi nhớ người đàn bà buôn gánh giữa thành phố Đà Nẵng trước năm bảy lăm. Chị có dáng người nhỏ nhắn, thường mặc bộ bà ba đen bạc màu, đầu đội nón lá, đi chân trần rảo khắp phố phường từ ngã ba Huế đến dọc bờ sông Hàn. Chị mua bán gì thì tôi không rõ, chỉ biết hết ngày này đến ngày khác chị cứ âm thầm bước trên những con đường quen thuộc ấy. Mệt thì nghỉ, khỏe lại đi tiếp. Chị hay dừng lại trước những cơ quan, các điểm đóng quân và Ty Cảnh sát của chính quyền Sài Gòn với chiếc nón lá cong vành phơ phất trên tay. Một cậu học trò nhà quê ra tỉnh như tôi rất dễ đồng cảm với hình ảnh những người đàn bà buôn gánh bán bưng như thế. Không chỉ cùng cảnh ngộ nghèo khó, cơ cực, không chốn nương thân mà bóng dáng người đàn bà buôn gánh bên đường còn khơi dậy hình ảnh của mẹ tôi ở một vùng quê thượng nguồn bên dòng sông Vu Gia. Mẹ tôi buôn gánh từ hồi còn là thiếu nữ đến ngày tôi lớn khôn. Mỗi sáng sớm, mẹ gồng gánh qua sông với bao thứ hàng hóa tiêu dùng bình dân, những chè tươi, ớt tỏi, nếp gạo, bún khô, đường phèn, đường phổi... Tất cả được bày trong các mủng thúng chất chồng giữa đôi gióng mây. Mẹ kể: Hồi chiến tranh, có lần bom đạn đầy trời, trên chiếc đò nhỏ chở những người buôn gánh lên chợ đã lật chìm. Hàng hóa trôi nổi đầy sông, còn phường buôn gánh thì kẻ còn, người mất. Tôi biết ơn đôi gánh ấy của mẹ tôi. Sau ngày giải phóng, mẹ đã già yếu nên không còn buôn gánh nữa. Và người đàn bà mà tôi thường gửi chiếc cặp của mình vào một đầu thúng rồi bước theo sau trên đường đi học về cũng không còn. Chị về quê sinh sống chăng? Hơn một tháng sau ngày ba mươi tháng tư, tôi lại gặp chị trong một buổi mít- tinh lớn chào mừng đất nước thống nhất tại sân Chi Lăng với bộ quân phục và chiếc mũ tai bèo trên khán đài. Thế là tôi hiểu ra chị ấy là cơ sở cách mạng, họat động nội thành mà lâu nay tôi không biết. Người đàn bà buôn gánh của tôi không chỉ gánh gánh đi buôn mà gánh vác cơ đồ cùng dân tộc. Bây giờ chị ở đâu? Cứ mỗi năm đến ngày này, tôi lại nhớ về chị. Thành phố Đà Nẵng bây giờ so với ngày xưa khác xa lắm. Bao nhiêu đổi thay từ cảnh vật đến con người , bao công trình mọc lên cao vút, bao nhà hàng, khách sạn chen nhau, đường sá nhiều hơn, rộng mở hơn xưa. Cuộc sống đường hòang hơn với bao niềm vui, nhất là sau ngày thành phố chính thức trực thuộc Trung ương. Với nhiều dự án xây dựng được bàn luận và thực thi mang lại cho người dân niềm hy vọng ở ngày mai. Điều này có thể mẹ tôi không biết vì tuổi mẹ đã xế chiều lại ở tận miền quê xa thẳm. Còn chị, người đàn bà buôn gánh năm xưa chắc đang còn sinh sống và làm việc giữa thành phố này, có khi nào chị ra phố tìm lại bóng dáng của mình để nhớ về một thời đẹp đẽ đã qua. Không hiểu vì sao tôi lại nảy sinh viết một cái gì đó về chị, có thể là một bài báo ngắn, biết đâu chị đọc được và sẽ tìm tôi. Mà tôi đâu biết tên chi, thôi chỉ ghi lại cái nghề buôn gánh, vậy thôi. Thế là vác cái máy ảnh cà tàng đi thực tế trên các đường phố để tìm hiểu về nhân vật của mình. Điều mà tôi ít nghĩ đến lâu nay là người buôn gánh kiếm sống ở thành phố bây giờ còn nhiều quá, chỉ thua lực lượng tiếp thị, các em đánh giày và bán vé số mà thôi. Ấy là chuyện thường ngày ở huyện mà! Tôi cứ đi như thế dưới nắng trưa và ngồi trò chuyện với các chị bán hàng rong hết nơi này sang nơi khác. Họ không như người chị buôn gánh của tôi ngày xưa, không làm nhiệm vụ chính trị trong lòng địch, mà họ chỉ lặng lẽ bước đi với đôi gánh trên vai để nuôi sống gia đình. Một ít khoai tây, một ít hành ngò, vài trái dưa, quả ổi, cứ thế họ chầm chậm trên đường với tiếng chào mời nhỏ nhẹ , ngồi xuống rồi đứng lên trước cửa mỗi hiên nhà. Hầu hết các chị và các mẹ đều nghèo khó, thiếu vốn. Họ đến thành phố này từ nhiều nơi khác nhau, phần lớn là ở vùng ven Đà Nẵng, có người tận Thăng Bình, Quế Sơn ra trú ngụ ở nhà bà con để đi buôn gánh và cả những người đang sống giữa thành phố. Tôi ngồi xuống bên đường trò chuyện với một người đàn bà tuổi chừng dưới bốn mươi. Cái đòn gánh gác trên hai đầu thúng, chiếc nón trên tay chị phơ phất vẫn chưa khô những giọt mồ hôi trên trán, chị nói: - Chú là nhà báo hả? Có lẽ chị thấy tôi mang máy ảnh, nên đóan thế, tôi liền hỏi: - Trước khi đi buôn gánh, chị làm gì? - Làm cán bộ phụ nữ ở phường, nhưng chỉ trong một thời gian ngắn tôi xin nghỉ. - Vì sao vậy? - Chuyện dài lắm, nhưng tôi kể vắn tắt chú nghe: Trước giải phóng, tôi cũng buôn gánh như thế này nhưng không như bây giờ, khổ quá. Vì hồi đó có tổ chức lo hết, nói là buôn mà có bán gì đâu. Còn buôn gánh ngày nay là kiếm sống nuôi chồng con, vất vả lắm. À, tôi lại quên, tôi xin nghỉ là vì không làm việc được. Tôi có hiểu gì về công tác phụ nữ đâu. Chẳng qua, sau giải phóng các anh tổ chức muốn cho tôi có việc làm nên bố trí như vậy. Vài ba tháng gì đó, là tôi về quê sinh sống. Lớn tuổi, không làm nông được nên cứ sáng xuống chợ Mới Ba Xã mua ít rau quả, khoai sắn mang ra thành phố bán kiếm năm ba nghìn mua gạo, hơn nữa là để nhớ lại cái thời buôn gánh năm xưa. Trời ơi, không lẽ là chị đây sao. Tôi nghĩ thầm như thế. Chị bỗng dưng vui lên và thân mật với tôi: - Chú biết không, đúng ra ngày này tôi không đi bán đi buôn gì đâu, nhưng năm nào cũng vậy, tôi đều có mặt ở thành phố Đà Nẵng để nhớ lại cái thời buôn gánh đầy ý nghĩa của mình. Nói xong, cả chị lẫn tôi đều buồn. Làm sao mà hiểu được nỗi buồn ấy. Có ai nhớ lại những kỷ niệm đẹp mà không nuối tiếc! Tôi bây giờ cũng không còn trẻ nữa, huống gì chị. Ngày ba mươi tháng tư có bao nhiêu người như tôi và chị trưa nay trên đường phố bên sông Hàn. Bây giờ, tôi không còn ý định viết bài báo để đi tìm chị nữa, không phải vì tôi đã gặp người đàn bà buôn gánh thời xưa mà tôi gặp câu trả lời về nhân cách của người đời. Chị đã không biết buôn trong cái gánh của mình, chị từ chối và chọn lựa vì một điều cao cả, trong khi bao người không một phút giây để nhận ra mình. Tại sao họ không đủ dũng khí và lương thiện như chị, tại sao họ không dám từ chức hoặc thôi việc khi họ không còn đủ năng lực để đảm đương công việc mà lẽ ra phải nhường lại cho người khác? Cả trong nghề làm báo của tôi cũng không ít người không nhận ra mình hoặc không dám nhận điều phũ phàng ấy về mình. Tôi định nhắc lại một vài kỷ niệm giữa tôi với chị mong gợi lên trong ký ức của người đàn bà buôn gánh ngày xưa, nhưng cũng chẳng để làm gì. Bây giờ chị ở đâu? Chị ấy tên gì? Có lẽ không còn cần thiết cho việc viết một bài báo nhỏ của tôi, mà chị đã trở thành nhân vật của đời thường trong cuộc sống vô thường. Tôi cứ đi tìm chị, người đàn bà buôn gánh.
Sau khi đọc bài Qua đò, nhớ mẹ, có mấy người bạn cũ ở Điện Bàn gọi điện thoại đề nghị tôi post lại bài thơ Quê mẹ, viết năm 1974, in trong tập thơ Giữa xanh thẳm Thu Bồn ( NXB Đà Nẵng - 1975 ).Bài thơ này một thời cũng đã gây ra nhiều chuyện tai ương cho vài người bạn của tôi, trong đó có anh Phạm Huy Mận, vừa làm thơ và vẽ tranh ở làng Bảo An đã bị công an bắt vì cái tội đọc bài thơ này trước công chúng ở Điện Bàn sau ngày quê hương mới giải phóng.
QUÊ MẸ
Mưa nào buồn như mưa trên sông Luá nào xanh như luá trên đồng Em có về quê tôi, em nhớ Tình trăm năm vun xới cấy trồng Cơn mưa chiều quê mẹ Kỳ Lam Mưa trắng vùng đất mới Niềm vui giữa bao ngày mong đợi Một sắc trời xanh đến bất ngờ Con đường quê dài như đời mẹ Tuổi thơ buồn trôi giữa mù khơi Mẹ nhớ ai như sông nhớ suối Sông dạt dào lòng mẹ, đời tôi
Có những đêm tôi nằm thức trắng Chênh chếch đời một nửa vầng trăng Trăng nghiêng bóng mẹ trên đầu rẫy Như gửi niềm đau xuống đất này
Mồ hôi nuôi lúa cơm chan nước mắt Như rừng nuôi cây như đất nuôi người Dưới mái tranh mẹ nằm chưa yên giấc Thấy bóng chồng trên dốc ngược, truông xuôi Và đứa con vừa đi làm, đi học Nửa đêm nghe sóng vỗ chân trời
Em có về quê tôi, em nhớ Mỗi con đường chỉ vưà đủ em đi Mỗi chén cơm hết hai phần khoai sắn Nỗi đau này đâu chỉ cuả riêng ai
Em có về quê tôi, em nhớ Gieo đời em trên những biền dâu Dâu xanh tốt như tình ta xanh trái Hạnh phúc là khi trói chặt đời nhau.
Ngày còn trẻ, mỗi lần về thăm quê, tôi thường đứng bên kia sông gọi đò. Người chèo đò có thể chưa nghe, nhưng mẹ tôi đã nghe rõ tiếng con mình ơi ới gọi. Trước nhà tôi là con sông Vu Gia hiền hoà, nơi mẹ đã sinh ra tôi trong một ngày gió to. Cứ đến ngày 29 tháng 3, tôi lại nhớ mẹ nhiều hơn. Bài thơ này xin tặng mẹ nhân ngày sinh nhật của con.
QUA ĐÒ, NHỚ MẸ
Tôi sinh ra từ bến sông này Sông thì hẹp mà quê dài rộng thế Đời mẹ nhọc nhằn bao mưa nguồn chớp bể Ấp ủ đàn con trong đôi gánh tảo tần
Bóng mẹ gầy lặn lội bờ sông Đêm giá lạnh ẵm bồng ru tiếng khóc Nỗi niềm trôi xuôi theo con đò dọc Trôi cả thời thiếu nữ mẹ tôi
Không gọi đò, con gọi mẹ ơi ! Trên bến sông này ngày xưa mẹ tắm Nước tận đầu nguồn chảy ra biển lớn mang theo phù sa từ sữa mẹ ngọt ngào
Đau đáu bên lòng một khúc ca dao Chợ sớm chợ chiều dãi dầm đời mẹ Thân cò dạt trôi bao mùa dâu bể Đời mẹ buồn đứng tựa bờ ao
Con trở về lặng lẽ non cao Núi vẫn xa xanh mẹ già không còn nữa Nghe đâu đây có tiếng ai vừa gọi Bếp lửa ngời lên trong mắt mẹ đang cười
Không gọi đò, con gọi mẹ ơi ! Sông thì hẹp mà vô bờ đến vậy Con đi qua hết một thời trai trẻ Từ chiếc đò lòng mẹ Qua sông
Ảnh : Nhân đêm thơ Chào Nguyên Xuân do Hội Nhà văn thành phố Đà Nẵng tổ chức tại công viên 29/3 tối qua, ngày 7.2.2009 ( nhằm ngày 13 tháng Giêng âm lịch ), ca sĩ Xuân Đề hát bài Xuân muộn của nhạc sĩ Nguyễn Duy Khoái ( phổ thơ Nguyễn Ngọc Hạnh ).
Bóng trăng
Vầng trăng hư ảo trong chiều Dạt trôi và dạt trôi nhiều dạt trôi
Hoàng hôn ngậm cỏ cùng tôi Bóng trăng xa có ngậm nguì bóng ai
Nuí ngồi đợi đến tinh mai Tôi ngồi một bóng bên ngoài trùng khơi
Bóng trăng cùng với bóng tôi Khuất trong bóng nuí gặp lời cổ nhân.
Dưới trăng
Vầng trăng đầu tháng xa xôi Dưới trăng cây cỏ cùng tôi sững sờ Vẫn là cổ tích hoang sơ Vẫn trăng, trăng cuả bây giờ đó thôi
"Vầng trăng ai xẻ làm đôi" Câu thơ hao khuyết một thời còn đây Lâu rồi đâu dễ ai hay Trăng non trăng vẫn tròn đầy vầng trăng.
Đêm trăng bên mộ Hàn Mặc Tử
Dưới trăng cùng Kazik
Ông ngồi lặng yên không nói gì Mờ sương Mỹ Sơn trời khuya dần buông Gió ru lời xưa cỏ cây điêu tàn
Tôi đâu có nói gì cùng Kazik Mà sao đền tháp cứ nhìn tôi Mà sao vũ nữ Chăm ngưng múa hát Thần Shiva níu thời gian trôi dạt
Ông chạm vào đá hồi sinh Những mất đi, sanh nở Dưới lớp rêu mờ tỏ Lấp lánh hơi ấm bàn tay Chămpa trong đó
Những đền tháp và những vụn nát Giữa thung lũng trần gian Như con tò vò chằm vá cần mẫn Nỗi niềm say mê tạo tác
Phải chi tôi đừng nói gì Vầng trăng kia sẽ trò chuyện cùng ông Cổ tháp kia sẽ lặng lẽ cùng ông Về những đổ vỡ trinh bạch Những vụn nát đền đài
Ông ngồi lặng yên không nói gì Nhìn vầng trăng trên tháp Tạc câu ca Chăm lên ngực Chạm vào điệu múa đất đai
Làm sao có thể kiệm lời Trước thần Shiva và tượng mất đầu Giữa hằng hà thiện ác.
--------------------------- ( Post lại bài thơ này để tưởng nhớ ông )