Sign up
Tự giới thiệu
My picture!
Nguyễn Ngọc Hạnh

Mai này còn chút tri âm
Mình ru cho hết thăng trầm mới thôi
--------------------------------------------------------

NGUYỄN NGỌC HẠNH

Bút danh : Vương Hạnh
Quê quán :Quảng Nam
Hội viên Hội nhà văn Tp Đà Nẵng
Hội viên Hội nhà báo Việt Nam

Nguyên Trưởng Vp báo Diễn đàn Doanh nghiệp tại MT&TN
Nguyên Trưởng Vp báo Công nghiệp Việt Nam tại MT&TN
Nguyên Trưởng Vp Tạp chí Vib. Forum tại MT&TN
Hiện là Trưởng đại diện báo Công thương Việt Nam tại miền Trung
---------------------

Tác phẩm đã in :
Hoa ven sông - thơ - ( in chung )
Cánh cửa mở - thơ - ( in chung )
Khi xa mặt đất ( thơ ) 1997, NXB Đà Nẵng

Sắp in :
Hạnh phúc lặng lẽ ( thơ )

Nhạc phổ từ thơ Nguyễn Ngọc Hạnh
Lịch
« February 2010 »
Su Mo Tu We Th Fr Sa
  1 2 3 4 5 6
7 8 9 10 11 12 13
14 15 16 17 18 19 20
21 22 23 24 25 26 27
28            
tìm kiếm
bài gần đây...
Các góp ý gần đây
categories
liên kết cá nhân
lưu trữ
Xuất bản tin
Trạng thái của blog

Qua đò nhớ mẹ

2010-01-12 @ 21:13 in Chung

Qua đò nhớ mẹ
 - Thơ Nguyễn Ngọc Hạnh
 - Nhạc Nguyễn Ngọc Tiến
 - Ca sỹ Thuý Hiền

QUA ĐÒ, NHỚ MẸ

 Tôi sinh ra
từ bến sông này
Sông thì hẹp
mà quê dài rộng thế
Đời mẹ nhọc nhằn
bao mưa nguồn chớp bể
Ấp ủ đàn con
trong đôi gánh tảo tần
 

Bóng mẹ gầy
lặn lội bờ sông
Đêm giá lạnh
ẵm bồng ru tiếng khóc
Nỗi niềm trôi xuôi
theo con đò dọc
Trôi cả thời thiếu nữ mẹ tôi
 

Không gọi đò, con gọi mẹ ơi !
Trên bến sông này
ngày xưa mẹ tắm
Nước tận đầu nguồn
chảy ra biển lớn
mang theo phù sa
từ sữa mẹ ngọt ngào
 

Đau đáu bên lòng
một khúc ca dao
Chợ sớm chợ chiều dãi dầm đời mẹ
Thân cò dạt trôi
bao mùa dâu bể
Đời mẹ buồn đứng tựa bờ ao

Con trở về lặng lẽ
non cao
Núi vẫn xa xanh
mẹ già không còn nữa
Nghe đâu đây
có tiếng ai vừa gọi
Bếp lửa ngời lên
trong mắt mẹ đang cười
 

Không gọi đò, con gọi mẹ ơi !
Sông thì hẹp
mà vô bờ đến vậy
Con đi qua
hết một thời trai trẻ
Từ chiếc đò lòng mẹ
Qua sông

Ôi con đò lòng mẹ
mênh mông !
 

Cuối tháng 3.2009

HÌNH ẢNH ĐÊM CHIA TAY VỚI NGUYỄN TRUNG BÌNH

2009-12-13 @ 09:53 in Chung

Biết làm sao khác được, sau những hình ảnh Buổi tưởng nhớ nhà báo, nhà thơ Đặng Ngọc Khoa đêm mùng 4 tháng 12 chưa hết những dòng comment tiếc thương của bè bạn khắp nơi gửi về với những dòng chữ chất chứa biết bao tiếc thương và lòng mến trọng; nay đến lượt Nguyễn Trung Bình, một thi sĩ đặm đặc hồn vía đất Quảng cũng ra đi, đi mãi...để lại trong lòng anh em bè bạn những tình cảm yêu thương vô bờ, kính phục. Đêm nay (12/12/2009), ngay tại ngôi nhà thân yêu của mình, nhà thơ Nguyễn Trung Bình đã hội ngộ, cụng ly rượu trần gian cuối cùng với bạn bè văn nghệ ở quê nhà. Tuy còn thiếu vắng, vài người ở gần mà không về kịp, nhưng cũng có anh em ở xa tận Tp HCM và Thừa Thiên Huế lại có mặt đủ đầy trong đêm tiễn biệt.
Làm sao có thể kể hết những nghĩa tình sâu nặng, những giọt nước mắt ngậm ngùi trong đêm chia tay này. Rồi đây, khi chúng ta gõ tên Nguyễn Trung Bình trong google hoặc bất chợt đâu đó sẽ gặp anh trên các trang báo với những bài viết đầy niềm thương tiếc của bạn bè văn nghệ về hình ảnh Trẻ dáng nâu xưa. Phần mình, sau khi tạm biệt Thị Trấn Nam Phước, Duy Xuyên, chia tay Nguyễn Trung Bình lần sau cuối, tôi về Đà Nẵng đã đúng 12 giờ khuya, rồi ngồi vào máy, vội chuyển một số hình ảnh này đến các bạn, những người yêu mến nhà thơ Nguyễn Trung Bình xa gần để các bạn biết rằng đêm nay anh đã ấm áp được yên nghỉ nơi quê nhà với bao tình yêu thương của gia đình và bè bạn trong đêm tưởng nhớ đầy xúc động này.
 




Quang cảnh ngôi nhà Nguyễn Trung Bình trước Đêm tưởng niệm


 Vợ của nhà thơ Nguyễn Trung Bình



Nhà thơ Phùng Tấn Đông dẫn chuyện...



Trần Tuấn đọc lại bài trả lời PV của Nguyễn Trung Bình về phim Cyclo



Huỳnh Lê Nhật Tấn đọc thơ tặng Nguyễn Trung Bình



Anh Thiều Quang Ánh, thầy giáo thời cấp một
của nhà thơ Nguyễn Trung Bình



Anh Ngọc San, một người bạn từ Tp HCM về Duy
Xuyên đọc thơ, nhớ Nguyễn Trung Bình




Nhà thơ Từ Dạ Thảo đọc thơ tiễn biệt Nguyễn Trung Bình



Nhà văn Hồ Trung Tú ( bên phải) kể chuyện về Nguyễn Trung Bình



Nhà văn Lê Trâm nhớ Nguyễn Trung Bình



Nhạc sĩ Phan Văn Minh đang hát Trẻ dáng nâu
( phổ thơ Nguyễn Trung Bình )



Trần Thiên Thị đang nhắc lại vài kỷ niệm
với Nguyễn Trung Bình những ngày còn sống...




Phùng Tấn Đông đọc Bài của trẻ dáng nâu
( thơ Nguyễn Trung Bình )




Phó TBT Tạp chí Đất Quảng, nhà thơ Phan Chín
đang kể lại chi tiết anh em văn nghệ Quảng Nam chờ đón chiếc
xe tang đưa Nguyễn Trung Bình từ Tp HCM về, ngang qua Tam Kỳ




Nhà thơ Phạm Nguyên Tường, Chủ tịch Hội Nhà văn Tp Huế, người
bạn xa quê thời sinh viên đọc thơ tặng bạn Nguyễn Trung Bình



Nguyễn Ngọc Hạnh đọc " Ngày trở lại ", bài thơ Bình rất yêu thích . 



Nhà thơ Nguyễn Tấn Sĩ đọc"Hai đầu nỗi nhớ" để tiễn biệt N.T. Bình


Phạm Tấn Dũng đọc thơ & chạm cốc với Nguyễn Trung Bình 



Nguyễn Trung Việt, anh ruột của Nguyễn Trung Bình  
xin cảm tạ mọi người đã chia sẻ với gia đình anh !
 

Nhà thơ Trần Tuấn :" Khép lại rồi, Bình ơi !"

NGUYỄN TRUNG BÌNH ĐÃ DỪNG CUỘC CHƠI !

2009-12-11 @ 15:40 in Chung

   






lúc này hoặc mai sau

nhớ hay quên là lẽ thường tình

chỉ biết một chiều đông Khoa nói với biển gió lớn

cuộc chơi lắm thứ vui buồn nhưng cũng phải dừng thôi !...
                                        

Nhà thơ Nguyễn Trung Bình sinh năm 1968 tại Hội An.
Quê gốc : Thị trấn Nam Phước, Duy Xuyên, Quảng Nam

Hội Viên Hội Nhà Văn Thành Phố Hồ Chí Minh


Tác phẩm :

Miền Mây Trắng (Thơ 4 tác giả, NXB Đà Nẵng,1994)

Bài của trẻ dáng nâu ( Thơ, NXB văn nghệ TP.HCM, 1996);

Đồng tác giả Lời thọai kịch bản CYCLO ( giải sư tử vàng liên

hoan phim Venise, 1995 - Đạo diễn Trần Anh Hùng )

Tác giả các phim tài liệu :

Cao su Đồng Nai (Hãng phim TSTL TP.HCM.1997)

Rối nụ cười ( Hãng phim Nguyễn Đình Chiểu,1998)

Thánh Địa Mỹ Sơn ( Cùng biên sọan, NXB Lao Động, 2005)...
Anh từ trần đột ngột hồi 18:00 ngày 10.12.2009
tại Sài Gòn, hưởng dương 41 tuổi .
Sáng nay, 11/12/2009, Nguyễn Trung Bình trở về quê
trên chiếc quan tài sau gần 20 năm lưu lạc ở Sài Gòn.
 

Cám ơn anh Hạnh
Cám ơn Anh đã post lên kịp thời hình ảnh ( về Đặng Ngọc Khoa )
để anh em ở xa xem được; sẽ liên lạc sau Anh nhé !
Nguyễn Trung Bình

----------------
Viết bởi Nguyễn Trung Bình 08:04-2009-12-07

Comment trên đây, Nguyễn Trung Bình viết cho Entry "Hình ảnh đêm cuối cùng với Đặng Ngọc Khoa" trên blog này, hồi 8h ngày 7/12/2009. Mới đó thôi, mà anh đã theo Đặng Ngọc Khoa đi rồi. Tôi còn nhớ, tối hôm ấy, trong khi anh em văn nghệ, bạn bè thân thiết của Khoa đang quầy quần trước linh cửu của anh tại nhà riêng để cùng chạm cốc lần sau cuối với Khoa, cùng hát và cùng đọc thơ với Khoa trong đêm tiễn biệt, thì nhà thơ Trần Tuấn, tác giả Ma thuật ngón cứ đi đi lại lại, loay hoay với chiếc điện thoại trên vai mình, tay thì ghi chép lia lịa như thói quen tác nghiệp của một nhà báo mọi ngày. Sau đó, Tuấn bảo tôi : Anh Hạnh ơi, Nguyễn Trung Bình muốn được đọc thơ qua điện thoại để tặng Khoa, nhưng không có máy móc âm thanh thế này thì làm sao đây anh! Cuối cùng Nguyễn Trung Bình yêu cầu Trần Tuấn chép lại qua điện thoại và nhờ Trần Tuấn đọc hộ bài thơ ấy trước linh cửu của Đặng Ngọc Khoa. Hình ảnh dưới đây được ghi lại, coi như là một kỷ niệm đẹp cuối cùng giữa chúng tôi, giữa những người bạn một thời, giữa những người làm thơ xứ Quảng.
Còn tôi, liên lạc sau với bạn, là bao giờ đây hỡi Nguyễn Trung Bình ?!




Nhà thơ Trần Tuấn đang đọc thơ Nguyễn Trung Bình
 ( từ Tp HCM điện thoại về )

TRÒ CHUYỆN VỚI  HUỲNH LÊ NHẬT TẤN
VỀ CHUYẾN ĐI CUỐI CÙNG CỦA ĐẶNG NGỌC KHOA


buổi chiều miền Trung u ơ...u ơ sóng biển & gió

Khoa nói cuộc đời đơn giản như một cuộc đi

hai thằng em trố mắt nhìn không hiểu

lời kia & thời gian có hẹn

sóng cứ vỗ ầm chiều...

Khoa bảo đó là âm thanh cõi lạ gọi con người không

nghe hay thấu hiểu

cần có những buổi chiều ngồi nghe

chứ không phải chiều 2.12.2009 (*)

chẳng cần thiết lời có cánh khi một người như Khoa bỏ dở


cuộc chơi nghiệt ngã

mắt Khoa vẫn mở nhìn cuộc sống quá nhiều hệ lụy

vẫn quay quắt nao lòng một lần đến Cà Mau (**)

không như kẻ đi hoang

Khoa cười hồn nhiên trước biển

nụ cười ấy không ăn nhập gì với búi tóc khô đã có lần mốc

nhưng biển Mỹ Khê & bạn bè Đà Nẵng

chẳng khi nào thấy được

Khoa cứ cười hồn nhiên & tự nhảy múa một mình trên mũi

biển Cà Mau

lúc này hoặc mai sau

nhớ hay quên là lẽ thường tình

chỉ biết một chiều đông Khoa nói với biển gió lớn

cuộc chơi lắm thứ vui buồn nhưng cũng phải dừng thôi !...


Sài Gòn,đêm 3.12.2009

Nguyễn Trung Bình
--------------------

(*) Nhà báo Đặng Ngọc Khoa mất lúc 14h45 chiều 2.12.2009.

(**) Quay Quắt Với Cà Mau - Thơ Đặng Ngọc Khoa



BÀI CỦA TRẺ DÁNG NÂU

  • NGUYỄN TRUNG BÌNH

từ đêm lội qua sông mắc cạn tuổi thơ

tôi bước mãi không về con đường vắng

dưới trời mưa nhì nhằng

những dáng nâu dắt đi trong khuya

...

sinh ra từ gốc rạ

những đứa trẻ dưới chân núi Chúa

mải mê cỏ biếc

chạy lon ton

chưa kịp biết mặt tổ tiên

hát điệu hò khoan ơ ở ru mình

bày biện trời đất nâu

thằng bé giụi đầu bú ngực đá

vú Chàm căng mọng

nhả miệng ra

ăn cục nói hòn

vung vẩy tắm

nước ngà sông Thu

lủi thủi lên bờ

đã thèm bông lúa chín

bước vào đời qua tấm lưng trâu

những bàn chân trẻ dại

bước chưa giáp vòng hết đất

những cánh tay trẻ dại

bơi chưa mỏi sải tới bờ

mắt ngơ ngơ Hòn Kẽm Đá Dừng

chẳng hiểu vì sao trôi ra tới biển Cù Lao Chàm

cửa sông gọi là Cửa Đợi

sóng thì trắng mà săn nhau quá

chắc đầu non góc bể gọi tìm

bọn trẻ

thấy gì nói nấy

cãi ran chiều

đất hẹp cò vẫn bay thẳng cánh

người hanh hao

da không trắng mà nâu màu đất

núi ngửa ngang lưng trời

vung vãi năm hòn hóng gió biển

sông chẳng dài ngang dọc

luôn phiên bồi lở

quấn quít chân người như rong

hèn chi

trăng

trời

mây miếc

có khi đứng

nghe hô bài chòi ngây ngất

cãi thì cãi

bọn trẻ lớn không chán

mặt trời lên cái nong

mặt trời lặn cái nia

vầng trăng mọc bánh tráng

vầng trăng lặn bánh tổ

gái tới thì lấy chồng

trai phải tuổi hỏi vợ

sinh con giống đẻ cái giòng

ô hay

làm con nít có chi

làm người lớn có chi

làm người lớn kỳ cục rứa

đàn ông quấn thuốc lá sâu kèn bập bập khói

lan man chiều

đàn bà ăn trầu nhai thuốc rê nhổ bẹt bẹt đỏ nắng

đêm gió rười rượi trăng

động tình bờ sông khuya

gật gà hò hượi

sáng ra mở mắt

đò trôi bến lặn

sóng lênh đênh

thằng bé men lối cỏ dại

ruộng cạn vá đồng sâu

đắn đo nhìn

triền dâu ngút ngút

trời chạng vạng sắp mưa

phải về

không thì ướt quần thô

cha la

nhánh tre trong tay xua xua đám phù du

lẹ lên lẹ lên

mẹ đợi

về nằm võng nghe mọt ru ọt ẹt

mơ giấc Cuội

nhoẻn miệng cười

nói mớ

đái dầm ướt cả đêm

chừng đó đất

chừng đó núi

chừng nớ buổi mai chèo đò

chừng ni hoàng hôn khói bếp

chừng đó trò trẻ con

chừng đó mặt người đế ngày giỗ chạp

chừng đó chuyện cải rân rân đập chén đổ bàn bỏ đi rồi quay lại

chừng đó câu hò câu hượi sông đêm

...

quen mất thôi

dễ chán

ngước lên nhìn xuống

tháp đứng quẩn bên đời thưa thớt

núi quắp như cúi mình

gãi gãi đầu xoăn cả tóc

có người cãi không lại nín thinh nhưng ức lắm

có người cãi thắng rồi cãi miết

kỳ thiệt

nghe không khéo ù tai

nhìn không tinh nhàm mắt

ngứa ngáy chân trẻ con

ngứa ngáy chân người lớn

hơi đâu lấn quấn hoài

dám gói đời mình trong gùi lụa

và đi

những dáng nâu lên đường

những dáng nâu ở lại

chia tay bằng thấm thía

rằng chung một gia tài không chia chác được

dáng nâu

đi và đi

đất mới ở phía trước

chuyện chi đến sẽ đến

đi như là tay mơ

xứ sở không buồn

không trách cứ

những đứa con hay cãi

đi đi sẽ thấy

chẳng đơn giản chút nào

đi đi sẽ hiểu

chuyện nhà

chuyện quê

đi và nhớ

nếu bao giờ mỏi gối chồn chân (có thể)

quay về với đất mẹ

nơi những đứa trẻ sinh ra từ dáng nâu

những đứa trẻ của những đứa trẻ dáng nâu

lớn lên từ bao đất khác

không quên bài ca tổ tông

đời nối đời

lên nhau thêm thắt

chuyện xưa rê ra sang chuyện mai

dáng nâu đã thành ký ức

ký ức như cái dằm ăn vô da thịt

ký ức dáng nâu

cuộc đi của đứa trẻ đã về

tay trắng

dáng nâu

HÌNH ẢNH ĐÊM TƯỞNG NHỚ ĐẶNG NGỌC KHOA

2009-12-07 @ 07:50 in Chung



                  Nhà thơ Đông Trình : Không trái tim ai ngừng đập trên đời

...Có một sự lạ trong tầm nhìn của tôi. Là việc Khoa tự bỏ học để cùng một số anh em đồng chí tìm đường lên núi! Tinh tế và mẫm cảm thì đã đành, nhưng ở đâu trong trái tim ấy vẫn thường xuyên le lói ánh sáng của chân lý? Chính từ Khoa và một số bạn bè của anh đã va đập, tung quẫy dữ dội, tạo nên cảm hứng bất ngờ cho tôi có những bài thơ như " Hoa đã hướng dương" ngày ấy : 

"Trước ngày ra đi

Em đến thăm tôi vào lúc mấy giờ đêm?

Cửa tôi đóng . Và ánh đèn

Đã tắt

Tôi đang ở xa, tôi không có mặt

Nhưng lòng tôi vẫn mở ngõ

chờ em

Nhưng đời tôi vẫn trang sách một ngọn đèn

Mà dưới bước em đi

Đã bùng lên vô cùng rực rỡ..."

Lại nói về thơ của anh. Một con người như thế lại làm thơ không nhiều. " Thầy ơi! Em lâu nay làm được vài bài nho nhỏ, định biên tập lại mớ thơ cũ nhưng cảm thấy mệt mỏi và chán nản. em phản đối ai bảo rằng làm thơ dễ hơn viết văn, chỉ dễ với những ai không tự nghiêm khắc với chính mình...'

Đánh giá về Khoa! Thì cũng sắp đánh giá được rồi. Thôi thì để cho cuộc đời vậy.



Nhà văn Hồ Trung Tú đang đọc " Ghe đi để lại dấu dầm" cho Khoa

...Trong thơ Khoa, câu thơ hình như phản ảnh đúng con người Khoa nhất là câu nói về Thủ Thiệm "Ông bỡn cợt ông, ông bỡn cợt đời". Khoa hình như cũng vậy, anh vui đùa bỡn cợt, và đem niềm vui đến cho mọi người trong suốt cả cuộc đời mình. Bận tâm làm gì chuyện để lại tác phẩm cho đời Khoa nhỉ. Ông bà mình xưa đã có câu "ghe đi để lại dấu dầm". Dấu dầm thoáng hiện đó rồi mất, đời người 50 năm hay 70 năm xét ra cho cùng cũng chỉ là dấu dầm thoáng hiện ra đó rồi mất. Ai muốn níu kéo thì chụp ảnh dấu dầm mà để lại, Khoa và nhiều người nữa chẳng cần làm vậy, dấu dầm đã hiện lên dưới ánh trăng hay dưới trưa nắng gắt, tự nó đã thật đẹp rồi. Cả cuộc đời Khoa hình như muốn minh triết, chữ dạo này nhiều người dùng, điều ấy.


Nhà báo Lê Đức Hùng, Phó Trưởng diện báo Thanh Niên tại Đà Nẵng
mở đầu đêm sinh hoạt tưởng nhớ Đặng Ngọc Khoa, tối ngày mùng 4/12/09.




Bác sĩ Lê Sơn hát Cát và tôi, thơ Hoàng Tư Thiện do Tống Hữu Hạnh
phổ nhạc để nhớ Khoa. Đây là bài hát mà lúc sinh thời Khoa rất thích.




Nhạc sĩ Trần Ái Nghĩa đang Ngẫu hứng Măng Đen - phổ thơ Đ. N. Khoa 



Nhạc sĩ Nguyễn Đức kéo Violon Một cõi đi về  của Trịnh Công Sơn



Xuân Huyền đang hát Về mái nhà xưa, nhạc sĩ Nguyễn Đình Thậm đệm đàn



Nhà báo Nguyễn Khoa Chiến đang kể về Đặng Ngọc Khoa trong
những ngày lang bạt với mình :

...
Chỉ có điều vẫn còn đó một niềm an ủi. Đó là dù cuộc đời và tình thế xã hội có làm bầm dập những người như mi tới đâu thì mi vẫn giữ được một trái tim trong sáng cho đời. Cái áo không làm nên thày tu, chức tước, danh vị không đủ nói lên nhân cách. Mi cũng chỉ là một nhà báo "quèn", nhưng bản lĩnh thể hiện qua các phóng sự gây ảnh hưởng lớn đến quyết sách của những nhà điều hành xã hội, những bài viết về những phận người, những cảnh đời làm lay động lòng người, cuốn hút sâu rộng đến sự đồng cảm của cộng đồng đã thành chân dung của một tên tuổi, dấu ấn của một tấm lòng...
Cái danh hiệu "nhà thương tâm học" anh em đồng nghiệp gắn vô cho mi để chọc vui ẩn chứa sự đồng tình thừa nhận vai trò không dễ thay thế của mi trong  khả năng khơi gợi lòng hảo tâm nơi mọi người.




Nhà thơ Phùng Tấn Đông đang " Dốc ngược ký ức ", nhớ  Khoa !

...Khoa là người nhạy cảm, nhạy cảm đến yếu đuối trước bao nhiêu dâu bể phận người, nhất là những khoảng tối ghê rợn dưới bóng những đời riêng mà Khoa nhận biết. Thơ chính là nơi Khoa gởi gắm bao nhiêu nỗi ưu thời, mẫn thế... Thơ Khoa ẩn đằng sau thể dạng "cổ điển" là nội lực tiềm tàng, những "biến tấu" ngang xương - kiểu nói người Quảng - đầy chủ đích nhằm thoát khỏi tính nhạc đã mòn nhàm... Khoa có bụng "liên tài", luôn ủng hộ cái mới, những người trẻ tuổi, những giọng điệu trẻ và đặc biệt với thơ, Khoa luôn khước từ mọi sự nghiêm trọng...



Nhà thơ Trần Tuấn đang đọc thơ Nguyễn Trung Bình
 ( từ Tp HCM điện thoại về )


TRÒ CHUYỆN VỚI  HUỲNH LÊ NHẬT TẤN
VỀ CHUYẾN ĐI CUỐI CÙNG CỦA ĐẶNG NGỌC KHOA


buổi chiều miền Trung u ơ...u ơ sóng biển & gió

Khoa nói cuộc đời đơn giản như một cuộc đi

hai thằng em trố mắt nhìn không hiểu

lời kia & thời gian có hẹn

sóng cứ vỗ ầm chiều...

Khoa bảo đó là âm thanh cõi lạ gọi con người không

nghe hay thấu hiểu

cần có những buổi chiều ngồi nghe

chứ không phải chiều 2.12.2009 (*)

chẳng cần thiết lời có cánh khi một người như Khoa bỏ dở


cuộc chơi nghiệt ngã

mắt Khoa vẫn mở nhìn cuộc sống quá nhiều hệ lụy

vẫn quay quắt nao lòng một lần đến Cà Mau (**)

không như kẻ đi hoang

Khoa cười hồn nhiên trước biển

nụ cười ấy không ăn nhập gì với búi tóc khô đã có lần mốc

nhưng biển Mỹ Khê & bạn bè Đà Nẵng

chẳng khi nào thấy được

Khoa cứ cười hồn nhiên & tự nhảy múa một mình trên mũi

biển Cà Mau

lúc này hoặc mai sau

nhớ hay quên là lẽ thường tình

chỉ biết một chiều đông Khoa nói với biển gió lớn

cuộc chơi lắm thứ vui buồn nhưng cũng phải dừng thôi !...


Sài Gòn,đêm 3.12.2009

Nguyễn Trung Bình
--------------------

(*) Nhà báo Đặng Ngọc Khoa mất lúc 14h45 chiều 2.12.2009.

(**) Quay Quắt Với Cà Mau - Thơ Đặng Ngọc Khoa.




Nguyễn Ngọc Hạnh đọc "Chậm mất rồi, vĩnh biệt Khoa ơi"



Nhạc sĩ Công Dũng vừa hát, vừa khóc... nhớ Đặng Ngọc Khoa



Nhạc sĩ Nguyễn Văn Nho ngâm thơ Đặng Ngọc Khoa
-----------------
Ảnh trang này của Lê Văn Thọ

CHẬM MẤT RỒI, VĨNH BIỆT KHOA ƠI !

2009-12-04 @ 18:15 in Tác Phẩm Thơ


Chậm mất rồi

Vĩnh biệt Khoa ơi

Rượt đuổi thời gian, chảy ngược dòng đời

Chạy thế nào đây cho kịp lúc

Chân trời vô tận

Mãi xa khơi


Giây phút này đây

Khúc nhạc không lời

Giai điệu bềnh bồng trên mái tóc

Một đời lãng du như rêu cỏ mọc

Mà ấm lòng bao số phận bể dâu


Chậm mất rồi

Nào có nghĩa gì đâu

Thời gian sống

Bù cho ngày đã khuất

Đâu dễ lấp nỗi buồn - nước mắt

Chút ít tình yêu

Khoa gửi lại trần gian

Cái đói rét cồn cào

Gió bão

Lầm than

Sự sống còn của bao người khốn khó

Là nỗi hãi hùng

Trong giấc ngủ không yên

Điềm tĩnh

Như nhiên

Khoa chờ đến lượt mình


Chậm mất rồi

Chân vấp phù sinh

Vết sẹo vẫn còn lưu trong ngực áo

Khoa mang hết những ngày đói khổ

Cả nỗi buồn thời bao cấp ra đi

Ai đóng dấu lên số phận, sắp bày ?


Phút cuối cùng

Bè bạn quanh đây

Có rượt đuổi cũng chẳng còn kịp nữa

Giữa khoảng cách không lời

Sấp ngửa

Giữa thấp hèn và những điều cao cả

Phút giây này, còn lại gì đây !


Chậm mất rồi

Mình đứng lại Khoa ơi

Thôi bạn nhé, chẳng bao giờ theo kịp

Đâu dễ đuổi theo điều cao đẹp

Nên chỉ đứng ngắm nhìn

Tiễn bạn mà thôi !


02.12.2009

Một chút hồn quê

2009-10-11 @ 17:25 in Tác phẩm báo chí

 


Một chút hồn quê nơi phố xá
         
Ai bỏ quên cuối vạt nắng chiều

Không ngờ hai câu thơ của tôi lại bỏ quên nơi góc quán này! Tình cờ tôi ghé lại đây, trên con đường lớn giữa thành phố bên sông Hàn này lại mọc lên một cái quán Nhà Quê nho nhỏ. Ai chẳng sinh ra từ một làng quê nào đó, chính vì thế khi gặp lại một chút hồn quê nơi phố xá thường dễ làm cho người ta lay động, nhớ về tuổi thơ ngày xưa của mình. Mấy người bạn văn nghệ của tôi ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh về Đà Nẵng chơi, đều ghé lại đây. Dường như cái vẻ mộc mạc đầy quyến rũ từ cái không gian trong lành ấy, ẩn chứa biết bao hoài niệm ấu thơ của mỗi đời người, bỗng chốc hiện về trong quán nhỏ, nó gợi lên biết bao kỷ niệm về làng quê, nơi đã ôm ấp tuổi thơ với hương đồng rơm rạ...

Cái làng ấy ra đi cùng tôi
         
Mà tôi nào hay biết
         
Chỉ mỗi điều giữa câu thơ tôi viết
         
Con sông quê, bóng núi cứ chập chờn
         
Xưa, tôi sống trong làng
         
Giờ, làng sống trong tôi

Từ cái làng với con sông quê, từ những món ăn nhà quê ấy, nào là bánh đúc bùi bùi chấm nước mắm nhĩ, nào đĩa gà tre Quế Sơn với muối tiêu trộn rau răm thơm phức. Ăn miếng bánh đúc làm tôi nhớ mẹ tôi. Đây là đặc sản của xứ Quảng, là món ăn rẻ tiền nhất mà mẹ dành cho bọn trẻ chúng tôi ngày xưa. Cho tới bây giờ, tôi vẫn còn nhớ đủ đầy cái hương vị, nhất là mùi dầu phụng chín thơm lừng rắc với ít lá hành trên chiếc bánh tròn màu nâu nâu ấy. Các món ăn ở Nhà Quê chế biến từ đặc sản sắn của miền Trung mới nghe đã thèm, nào lươn đùm lá chuối; cá đồng, cá nục hấp, quấn với bánh tráng sắn và rau muống tươi. "Nhà Quê" mới ra phố mà đã để lại nhiều ấn tượng với những ai đã từng có một thời sống với làng quê, từng ăn những món ăn dân dã, đầy hương vị quê nhà!
      

Quán nằm ngay trên con đường Nguyễn Thị Minh Khai đông vui của thành phố Đà Nẵng. Một không gian tuy chưa phải là nơi lý tưởng, đúng nghĩa với "nhà quê", nhưng ít nhiều cũng gợi lên cho khách thập phương một chút không gian, tĩnh lặng và lãng mạn khi ngồi bù khú bên nhau trên tấm phản gỗ cổ xưa, trong tiếng guitar thùng nhỏ nhẹ lồng trong những hoài niệm về làng quê ngày xưa. Nhìn món ăn là lạ, một đĩa gà tre muối tiêu Quế Sơn trộn rau răm thơm phức; một tô bánh trôi nước xào rau muống tỏi đậm đà...
      Các món ăn dân dã ấy được chế biến từ đặc sản của đất "chưa mưa đã thấm", được các nghệ nhân lâu năm ở xứ Quảng này chế biến; tất cả đều mang hồn quê, chan chứa mùi vị của dân gian. Giữa phố xá đông người với bao nhiêu thức ngon vật lạ, đắt tiền, càng làm cho vẻ đẹp của những món ăn dân dã này thêm quyến rũ. Nói cho thi vị, hình ảnh một tí, đấy là vẻ đẹp của người con gái nông thôn giữa chốn thị thành! Điều lạ lẫm hơn, chủ quán này là một cậu con trai chưa đầy 30 tuổi, còn rất trẻ. Tuy nghề chính là cán bộ ngân hàng, nhưng chẳng biết vì lẽ gì mà Hà Phước Tuấn lại đam mê chuyện hoài cổ với những món ăn "nhà quê" ấy! Tuấn cười và nhỏ nhẹ với tôi rằng: Ai cũng ra đi từ một làng quê nào đó, mỗi người ít nhiều đều gắn với những món ăn thời thơ ấu của mình. Cho dù bây giờ họ đang sống sung túc ở thị thành, nhưng tình cờ gặp lại không gian "quê nhà" ấy, họ đều muốn quay về với cội rễ, đúng hơn là có dịp để họ nhận ra chính mình giữa cuộc đời này.
                                                                    

Chông chênh

2009-08-19 @ 17:28 in Tác Phẩm Thơ


Tìm đâu ra
cuối truông sâu
Dấu chân xưa
lấp trong màu thời gian
Khơi lên từ đống tro tàn
Biết còn không
ánh trăng vàng ngày xưa

Trời đang nắng
bỗng nhiên mưa
Đâu đây có tiếng ai vừa gọi tôi
Nửa nghe nhỏ nhẹ, xa xôi
Nửa thân quen, ấy là tôi . Rất gần

Đầu ghềnh
còn đứng phân vân
Cuối truông lạc bước phong trần
Về đâu ?
Chân dò chưa hết nông sâu
Đã quay lại với nhịp cầu chông chênh
Sắc, không chân bước gập ghềnh
Cõi mơ hồ ấy buồn tênh phận mình

Từ trong lục lạc vô minh
Bày ra bao nỗi nhân tình, bể dâu
Cuối truông về lại sông sâu
Còn gì đây mối duyên đầu phôi phai

Thôi thì chân bước, dặm dài
Chút tình xưa biết còn ai tỏ bày
Một đời ngẫm lại, mới hay
Chưa bao giờ được đắm say yêu người !


Thêm một ngày
đáng nhớ trong đời !
20.8.2009

Như con tò vò chằm vá cần mẫn



Trần Thiện Anh
ĐỌC DƯỚI TRĂNG CÙNG KAZIK
CỦA NGUYỄN NGỌC HẠNH 
                                                                               

Ông ngồi lặng yên không nói gì

Mờ sương Mỹ Sơn trời khuya dần buông
Gió ru lời xưa cỏ cây điêu tàn

Tôi đâu có nói gì cùng Kazik
Mà sao đền tháp cứ nhìn tôi
Mà sao vũ nữ Chăm ngưng múa hát
Thần Shiva níu thời gian trôi dạt

Ông chạm vào đá hồi sinh
Những mất đi, sanh nở
Dưới lớp rêu mờ tỏ
Lấp lánh hơi ấm bàn tay Chămpa trong đó

Những đền tháp và những vụn nát
Giữa thung lũng trần gian
Như con tò vò chằm vá cần mẫn
Nỗi niềm say mê tạo tác

Phải chi tôi đừng nói gì
Vầng trăng kia sẽ trò chuyện cùng ông
Cổ tháp kia sẽ lặng lẽ cùng ông
Về những đổ vỡ trinh bạch
Những vụn nát đền đài

Ông ngồi lặng yên không nói gì
Nhìn vầng trăng trên tháp
Tạc câu ca Chăm lên ngực
Chạm vào điệu múa đất đai

Làm sao có thể kiệm lời
Trước thần Shiva và tượng mất đầu
Giữa hằng hà thiện ác.


Bài thơ này làm tôi nhớ đến người kiến trúc sư Ba Lan tài hoa mà tôi có may mắn được gặp một lần bên tháp Chàm Mỹ Sơn lần tôi qua xứ Quảng. Và qua đó tôi biết ông đã dành cả phần đời còn lại để giúp Việt Nam phục chế, trùng tu lại những tháp chàm hoang phế bao đời. Bài thơ có 4 nhân vật: Kazik, Cổ tháp, Trăng và tác giả (tôi). Kazik ngồi không nói. Tác giả ngồi không nói. Cổ tháp điêu tàn như đang nói bằng đổ vỡ, như kêu cứu. Chỉ có Trăng trò chuyện cùng Kazik... Bài thơ như một vết cắt lưu giữ lại thời khắc tâm trạng của người kiến trúc sư muốn phục chế lại thời gian đã mất.

Bài thơ cứ dẫn dắt như một câu chuyện kể khách quan trộn lẫn trữ tình. Một trữ tình tự sự. Tác giả phân thân vào không gian huyền thoại:

Mờ sương Mỹ Sơn trời khuya dần buông
Gió ru lời xưa cỏ cây điêu tàn...
Vũ nữ Chăm ngưng múa hát
Thần Shiva níu thời gian trôi dạt

Tác giả phân thân vào vầng Trăng để nhìn thấy đền đài đổ nát, những "đổ vỡ trinh bạch" để cảm thấu tỏ tường "con tò vò chằm vá" ... thời gian đã mất. Đấy là sự phân thân đầu tiên và cuối cùng nhập hồn vào Kazik để đọc được lòng ông:

Tạc câu ca Chăm lên ngực
Chạm vào điệu múa đất đai

Vậy mà bài thơ lại như một độc thoại câm của người kiến trúc sư từ phương xa đến, làm cho người đọc tin rằng, chính cái đêm trăng bên tháp Chàm đổ nát ấy đã có thể dựng lên cả một quá khứ vàng son khi khổ thơ kết xuất hiện:

Làm sao có thể kiệm lời
Trước thần Shiva và tượng mất đầu
Giữa hằng hà thiện ác.

Tôi nghĩ bài thơ này hơi khác, lạ so với phần lớn thơ của Nguyễn Ngọc Hạnh, vì cấu trúc bài thơ này mang tính đa chiều, nó giống một cái tháp mà quay quanh nó, ta đọc được nhiều vẻ đẹp khác nhau. Lại có thể vì một cái tên Tây cũng làm cho cảm xúc người đọc khác đi, bởi tự thân chữ Kazik cũng khác với những Trung những Dũng quá quen thuộc với tôi. Hay là khi viết về Kazik, chính Nguyễn Ngọc Hạnh cũng muốn thơ mình tây tây một chút cho hợp với đối tượng trữ tình?

Dù sao đi nữa thì bài thơ DƯỚI TRĂNG CÙNG KAZIK cũng mang lại cho tôi một cảm giác khác khi đọc thơ Nguyễn Ngọc Hạnh, và nó để lại cho tôi một ấn tượng về Kazik, một con người từ xa đến đây và đã thực sự yêu đất nước tôi bằng chính công việc của mình như con tò vò chằm vá cần mẫn, người phục chế thời gian đã mất.
Nguyễn Ngọc Hạnh ở Mỹ Sơn
Tháng 6.2009

T.T.A

Qua Đò Nhớ Mẹ

2009-05-19 @ 15:27 in Nhạc

 Qua đò nhớ mẹ
 - Thơ Nguyễn Ngọc Hạnh
 - Nhạc Nguyễn Ngọc Tiến
 - Trình bày Nguyễn Ngọc Tiến


QUA ĐÒ, NHỚ MẸ

 Tôi sinh ra
từ bến sông này
Sông thì hẹp
mà quê dài rộng thế
Đời mẹ nhọc nhằn
bao mưa nguồn chớp bể
Ấp ủ đàn con
trong đôi gánh tảo tần
 

Bóng mẹ gầy
lặn lội bờ sông
Đêm giá lạnh
ẵm bồng ru tiếng khóc
Nỗi niềm trôi xuôi
theo con đò dọc
Trôi cả thời thiếu nữ mẹ tôi
 

Không gọi đò, con gọi mẹ ơi !
Trên bến sông này
ngày xưa mẹ tắm
Nước tận đầu nguồn
chảy ra biển lớn
mang theo phù sa
từ sữa mẹ ngọt ngào
 

Đau đáu bên lòng
một khúc ca dao
Chợ sớm chợ chiều dãi dầm đời mẹ
Thân cò dạt trôi
bao mùa dâu bể
Đời mẹ buồn đứng tựa bờ ao

Con trở về lặng lẽ
non cao
Núi vẫn xa xanh
mẹ già không còn nữa
Nghe đâu đây
có tiếng ai vừa gọi
Bếp lửa ngời lên
trong mắt mẹ đang cười
 

Không gọi đò, con gọi mẹ ơi !
Sông thì hẹp
mà vô bờ đến vậy
Con đi qua
hết một thời trai trẻ
Từ chiếc đò lòng mẹ
Qua sông

Ôi con đò lòng mẹ
mênh mông !
 

Cuối tháng 3.2009

 

Trần Tiến độc hành với tiếng chim quê

2009-05-07 @ 21:02 in Tác phẩm báo chí

Có một đêm nghe nhạc sĩ Trần Tiến hát, đúng hơn là tôi nghe anh độc hành với tiếng chim quê bằng tâm hồn của người nhạc sĩ hát rong hiện đại. Ôm đàn gõ nhịp với đời, từ năm 17 tuổi, Trần Tiến đã có không ít những ca khúc đầy ngẫu hứng in đậm trong tâm trí của nhiều người, nhiều thế hệ. Bài viết này chỉ muốn dừng lại về một Trần Tiến với Độc huyền cầmTiếng chim quê. Đây là hai ca khúc mà tôi may mắn được nghe tác giả hát lần đầu tiên với công chúng yêu âm nhạc ở Đà Nẵng đã lâu rồi. Rất tiếc là sau đó, không biết vì lẽ gì mà hai bài hát này lại ít thấy xuất hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng như các ca khúc nổi tiếng khác của anh (?) :

Độc huyền cầm buồn lắm
Mấy ai người tri âm
Độc huyền cầm lẻ loi
Bay ngang cánh chim hồng

( Độc huyền cầm)

Vẫn những giai điệu, khúc thức đầy ngẫu hứng, vẫn là anh ấy thôi, nhưng người nghe đã nhận ra một Trần Tiến độc hành đi tìm tiếng chim quê nơi vườn cũ, một mình tìm lại những tháng năm đã mất, tìm lại đời mình:

Chiều trên phố nghe tiếng chim quê
Chàng Trương Chi buồn nhớ quê nhà

( Tiếng chim quê)

Trương Chi vẫn còn lang thang nơi đất khách, chưa về? Bỏ dòng sông xa rời Mỵ Nương, bạn bè cũ quê nhà mờ sương. Tôi mơ hồ nhận ra sự đơn độc của người nhạc sĩ " hát rong" bao năm trên đời mà vẫn thiếu tri âm. Thường những lúc như vậy, ai cũng mong tìm về chốn cũ: Đời không đâu bằng chốn quê nhà. Tâm trạng của bài hát rất dễ đồng cảm với con người trong cơn lốc đỏ đen này, còn riêng anh thì vẫn độc hành, bao hơn thua, được mất ở đời mà chi, một khi con người cứ sắm vai trước nỗi cô đơn luôn ám ảnh, dằn vặt chính mình, Trần Tiến tri âm với "độc huyền cầm".
Tôi là người ngọai đạo với âm nhạc, nên chẳng dám luận bàn gì về giai điệu khúc thức. Chỉ đồng cảm với ca từ mà thôi. Đây cũng là một trong những đòi hỏi cũng không mới lạ gì với công chúng yêu nhạc. Lời hát làm cho con người sống đẹp hơn, thức tỉnh và cao thượng hơn chứ không phải chỉ có những con chữ dễ dãi vô hồn chen vào giữa hai dòng nhạc. Mà ca từ trong nhạc Trịnh Công Sơn là một ví dụ. Làm sao mà ngồi yên, làm sao không chạnh lòng được khi nghe những lời hát:

Gió mây ngàn về đâu
Cũng thu về một bóng
Tráng sĩ ngồi lặng câm
Độc hành độc huyền cầm

( Độc huyền cầm)

Ai cũng đi tìm cho riêng mình một khoảng trời, một nơi nương tựa. Nhưng mấy người gặp được tri âm. Có phải vì nỗi cô đơn ấy mà một chiều tháng năm ở Đà Nẵng, Trần Tiến thảng thốt khi nghe tiếng chim cu, làm anh nhớ quê nhà:

Chàng đi giữa phố phường lạnh giá
Còn đâu nữa tiếng đàn ngày xưa...
Tìm hạnh phúc gia đình yên ấm
Ổ rơm khô khói lam sương mờ

( Tiếng chim quê)

Khi đau đớn, bơ vơ nhất người ta thường nhớ đến quê làng. Những rơm khô, khói lam sương mờ đôi khi lại giải thóat được nỗi đau ấy của người nghệ sĩ. Bởi chính đấy mới là nơi trở về sau những ngày lang thang giữa phố phường chật hẹp. Và mỗi lần như thế, người mẹ bao giờ cũng là nỗi nhớ day dứt:

Mẹ dặn con đừng hát khúc ca buồn
Rồi tiếng hát vận vào đời con
Con đâu có nghe...
Chàng Trương Chi ôm sáo tre nằm chết bên hè.

( Tiếng chim quê)

Tiếng hát vận vào đời con mới sinh ra cái bi kịch ấy, mẹ ơi!
Độc huyền cầm, cái đàn chỉ có một dây mà đã tạo ra bao nguồn vui se thắt bằng thứ âm thanh của riêng mình. Cũng như người nhạc sĩ ấy độc hành trên cõi đời thiếu tri âm, nhưng cứ lấp lánh, cứ cháy hết những gì trời đã ban cho mình. Cứ ca hát hết lòng với cuộc đời này, để rồi khi trở về làng cũ, người nhạc sĩ ấy lại thảng thốt, bơ vơ:

Tìm đâu nữa thiên đường mờ xa
Đời không đâu bằng chốn quê nhà .

Người đàn bà buôn gánh

2009-05-01 @ 10:11 in Tác phẩm báo chí

 

   Ngày ba mươi tháng tư có bao nhiêu người như tôi và chị trưa nay trên đường phố bên sông Hàn. Bây giờ, tôi không còn ý định viết bài báo để đi tìm chị nữa, không phải vì tôi đã gặp người đàn bà buôn gánh thời xưa mà tôi gặp câu trả lời về nhân cách của người đời. Chị đã không biết buôn trong cái gánh của mình, chị biết từ chối và chọn lựa vì một điều cao cả.

   Bỗng dưng tôi nhớ người đàn bà buôn gánh giữa thành phố Đà Nẵng trước năm bảy lăm. Chị có dáng người nhỏ nhắn, thường mặc bộ bà ba đen bạc màu, đầu đội nón lá, đi chân trần rảo khắp phố phường từ ngã ba Huế đến dọc bờ sông Hàn. Chị mua bán gì thì tôi không rõ, chỉ biết hết ngày này đến ngày khác chị cứ âm thầm bước trên những con đường quen thuộc ấy. Mệt thì nghỉ, khỏe lại đi tiếp. Chị hay dừng lại trước những cơ quan, các điểm đóng quân và Ty Cảnh sát của chính quyền Sài Gòn với chiếc nón lá cong vành phơ phất trên tay.
   Một cậu học trò nhà quê ra tỉnh như tôi rất dễ đồng cảm với hình ảnh những người đàn bà buôn gánh bán bưng như thế. Không chỉ cùng cảnh ngộ nghèo khó, cơ cực, không chốn nương thân mà bóng dáng người đàn bà buôn gánh bên đường còn khơi dậy hình ảnh của mẹ tôi ở một vùng quê thượng nguồn bên dòng sông Vu Gia. Mẹ tôi buôn gánh từ hồi còn là thiếu nữ đến ngày tôi lớn khôn. Mỗi sáng sớm, mẹ gồng gánh qua sông với bao thứ hàng hóa tiêu dùng bình dân, những chè tươi, ớt tỏi, nếp gạo, bún khô, đường phèn, đường phổi... Tất cả được bày trong các mủng thúng chất chồng giữa đôi gióng mây. Mẹ kể: Hồi chiến tranh, có lần bom đạn đầy trời, trên chiếc đò nhỏ chở những người buôn gánh lên chợ đã lật chìm. Hàng hóa trôi nổi đầy sông, còn phường buôn gánh thì kẻ còn, người mất. 
   Tôi biết ơn đôi gánh ấy của mẹ tôi.
   Sau ngày giải phóng, mẹ đã già yếu nên không còn buôn gánh nữa. Và người đàn bà mà tôi thường gửi chiếc cặp của mình vào một đầu thúng rồi bước theo sau trên đường đi học về cũng không còn. Chị về quê sinh sống chăng? Hơn một tháng sau ngày ba mươi tháng tư, tôi lại gặp chị trong một buổi mít- tinh lớn chào mừng đất nước thống nhất tại sân Chi Lăng với bộ quân phục và chiếc mũ tai bèo trên khán đài. Thế là tôi hiểu ra chị ấy là cơ sở cách mạng, họat động nội thành mà lâu nay tôi không biết. Người đàn bà buôn gánh của tôi không chỉ gánh gánh đi buôn mà gánh vác cơ đồ cùng dân tộc. Bây giờ chị ở đâu? Cứ mỗi năm đến ngày này, tôi lại nhớ về chị.
   Thành phố Đà Nẵng bây giờ so với ngày xưa khác xa lắm. Bao nhiêu đổi thay từ cảnh vật đến con người , bao công trình mọc lên cao vút, bao nhà hàng, khách sạn chen nhau, đường sá nhiều hơn, rộng mở hơn xưa. Cuộc sống đường hòang hơn với bao niềm vui, nhất là sau ngày thành phố chính thức trực thuộc Trung ương. Với nhiều dự án xây dựng được bàn luận và thực thi mang lại cho người dân niềm hy vọng ở ngày mai. Điều này có thể mẹ tôi không biết vì tuổi mẹ đã xế chiều lại ở tận miền quê xa thẳm. Còn chị, người đàn bà buôn gánh năm xưa chắc đang còn sinh sống và làm việc giữa thành phố này, có khi nào chị ra phố tìm lại bóng dáng của mình để nhớ về một thời đẹp đẽ đã qua.
   Không hiểu vì sao tôi lại nảy sinh viết một cái gì đó về chị, có thể là một bài báo ngắn, biết đâu chị đọc được và sẽ tìm tôi. Mà tôi đâu biết tên chi, thôi chỉ ghi lại cái nghề buôn gánh, vậy thôi. Thế là vác cái máy ảnh cà tàng đi thực tế trên các đường phố để tìm hiểu về nhân vật của mình. Điều mà tôi ít nghĩ đến lâu nay là người buôn gánh kiếm sống ở thành phố bây giờ còn nhiều quá, chỉ thua lực lượng tiếp thị, các em đánh giày và bán vé số mà thôi. Ấy là chuyện thường ngày ở huyện mà! 
   Tôi cứ đi như thế dưới nắng trưa và ngồi trò chuyện với các chị bán hàng rong hết nơi này sang nơi khác. Họ không như người chị buôn gánh của tôi ngày xưa, không làm nhiệm vụ chính trị trong lòng địch, mà họ chỉ lặng lẽ bước đi với đôi gánh trên vai để nuôi sống gia đình. Một ít khoai tây, một ít hành ngò, vài trái dưa, quả ổi, cứ thế họ chầm chậm trên đường với tiếng chào mời nhỏ nhẹ , ngồi xuống rồi đứng lên trước cửa mỗi hiên nhà. Hầu hết các chị và các mẹ đều nghèo khó, thiếu vốn. Họ đến thành phố này từ nhiều nơi khác nhau, phần lớn là ở vùng ven Đà Nẵng, có người tận Thăng Bình, Quế Sơn ra trú ngụ ở nhà bà con để đi buôn gánh và cả những người đang sống giữa thành phố.
   Tôi ngồi xuống bên đường trò chuyện với một người đàn bà tuổi chừng dưới bốn mươi. Cái đòn gánh gác trên hai đầu thúng, chiếc nón trên tay chị phơ phất vẫn chưa khô những giọt mồ hôi trên trán, chị nói:
   - Chú là nhà báo hả?
   Có lẽ chị thấy tôi mang máy ảnh, nên đóan thế, tôi liền hỏi:
   - Trước khi đi buôn gánh, chị làm gì?
   - Làm cán bộ phụ nữ ở phường, nhưng chỉ trong một thời gian ngắn tôi xin nghỉ.
   - Vì sao vậy?
   - Chuyện dài lắm, nhưng tôi kể vắn tắt chú nghe: Trước giải phóng, tôi cũng buôn gánh như thế này nhưng không như bây giờ, khổ quá. Vì hồi đó có tổ chức lo hết, nói là buôn mà có bán gì đâu. Còn buôn gánh ngày nay là kiếm sống nuôi chồng con, vất vả lắm. À, tôi lại quên, tôi xin nghỉ là vì không làm việc được. Tôi có hiểu gì về công tác phụ nữ đâu. Chẳng qua, sau giải phóng các anh tổ chức muốn cho tôi có việc làm nên bố trí như vậy. Vài ba tháng gì đó, là tôi về quê sinh sống. Lớn tuổi, không làm nông được nên cứ sáng xuống chợ Mới Ba Xã mua ít rau quả, khoai sắn mang ra thành phố bán kiếm năm ba nghìn mua gạo, hơn nữa là để nhớ lại cái thời buôn gánh năm xưa.
   Trời ơi, không lẽ là chị đây sao. Tôi nghĩ thầm như thế.
   Chị bỗng dưng vui lên và thân mật với tôi:
   - Chú biết không, đúng ra ngày này tôi không đi bán đi buôn gì đâu, nhưng năm nào cũng vậy, tôi đều có mặt ở thành phố Đà Nẵng để nhớ lại cái thời buôn gánh đầy ý nghĩa của mình.
   Nói xong, cả chị lẫn tôi đều buồn. Làm sao mà hiểu được nỗi buồn ấy. Có ai nhớ lại những kỷ niệm đẹp mà không nuối tiếc! Tôi bây giờ cũng không còn trẻ nữa, huống gì chị. Ngày ba mươi tháng tư có bao nhiêu người như tôi và chị trưa nay trên đường phố bên sông Hàn. Bây giờ, tôi không còn ý định viết bài báo để đi tìm chị nữa, không phải vì tôi đã gặp người đàn bà buôn gánh thời xưa mà tôi gặp câu trả lời về nhân cách của người đời. Chị đã không biết buôn trong cái gánh của mình, chị từ chối và chọn lựa vì một điều cao cả, trong khi bao người không một phút giây để nhận ra mình. Tại sao họ không đủ dũng khí và lương thiện như chị, tại sao họ không dám từ chức hoặc thôi việc khi họ không còn đủ năng lực để đảm đương công việc mà lẽ ra phải nhường lại cho người khác? Cả trong nghề làm báo của tôi cũng không ít người không nhận ra mình hoặc không dám nhận điều phũ phàng ấy về mình.
   Tôi định nhắc lại một vài kỷ niệm giữa tôi với chị mong gợi lên trong ký ức của người đàn bà buôn gánh ngày xưa, nhưng cũng chẳng để làm gì. Bây giờ chị ở đâu? Chị ấy tên gì? Có lẽ không còn cần thiết cho việc viết một bài báo nhỏ của tôi, mà chị đã trở thành nhân vật của đời thường trong cuộc sống vô thường. Tôi cứ đi tìm chị, người đàn bà buôn gánh.

NNH

Quê mẹ

2009-04-09 @ 15:21 in Tác Phẩm Thơ


Sau khi đọc bài Qua đò, nhớ mẹ, có mấy người bạn cũ ở Điện Bàn gọi điện thoại đề nghị tôi post lại bài thơ Quê mẹ, viết năm 1974, in trong tập thơ Giữa xanh thẳm Thu Bồn ( NXB Đà Nẵng - 1975 ). Bài thơ này một thời cũng đã gây ra nhiều chuyện tai ương cho vài người bạn của tôi, trong đó có anh Phạm Huy Mận, vừa làm thơ và vẽ tranh ở làng Bảo An đã bị công an bắt vì cái tội đọc bài thơ này trước công chúng ở Điện Bàn sau ngày quê hương mới giải phóng.


QUÊ MẸ


Mưa nào buồn như mưa trên sông
Luá nào xanh như luá trên đồng
Em có về quê tôi, em nhớ
Tình trăm năm vun xới cấy trồng

Cơn mưa chiều quê mẹ Kỳ Lam
Mưa trắng vùng đất mới
Niềm vui giữa bao ngày mong đợi
Một sắc trời xanh đến bất ngờ

Con đường quê dài như đời mẹ
Tuổi thơ buồn trôi giữa mù khơi
Mẹ nhớ ai như sông nhớ suối
Sông dạt dào lòng mẹ, đời tôi

Có những đêm tôi nằm thức trắng
Chênh chếch đời một nửa vầng trăng
Trăng nghiêng bóng mẹ trên đầu rẫy
Như gửi niềm đau xuống đất này

Mồ hôi nuôi lúa cơm chan nước mắt
Như rừng nuôi cây như đất nuôi người
Dưới mái tranh mẹ nằm chưa yên giấc
Thấy bóng chồng trên dốc ngược, truông xuôi
Và đứa con vừa đi làm, đi học
Nửa đêm nghe sóng vỗ chân trời

Em có về quê tôi, em nhớ
Mỗi con đường chỉ vưà đủ em đi
Mỗi chén cơm hết hai phần khoai sắn
Nỗi đau này đâu chỉ cuả riêng ai

Em có về quê tôi, em nhớ
Gieo đời em trên những biền dâu
Dâu xanh tốt như tình ta xanh trái
Hạnh phúc là khi trói chặt đời nhau.

Qua đò, nhớ mẹ

2009-03-29 @ 10:59 in Tác Phẩm Thơ

      Viết nhân ngày sinh nhật mình ( 29.3 )

          Ngày còn trẻ, mỗi lần về thăm quê, tôi thường đứng bên kia sông gọi đò. Người chèo đò có thể chưa nghe, nhưng mẹ tôi đã nghe rõ tiếng con mình ơi ới gọi. Trước nhà tôi là con sông Vu Gia hiền hoà, nơi mẹ đã sinh ra tôi trong một ngày gió to. Cứ đến ngày 29 tháng 3, tôi lại nhớ mẹ nhiều hơn. Bài thơ này xin tặng mẹ nhân ngày sinh nhật của con.  

QUA ĐÒ, NHỚ MẸ

 

Tôi sinh ra
từ bến sông này
Sông thì hẹp
mà quê dài rộng thế
Đời mẹ nhọc nhằn
bao mưa nguồn chớp bể
Ấp ủ đàn con
trong đôi gánh tảo tần
 

Bóng mẹ gầy
lặn lội bờ sông
Đêm giá lạnh
ẵm bồng ru tiếng khóc
Nỗi niềm trôi xuôi
theo con đò dọc
Trôi cả thời thiếu nữ mẹ tôi
 

Không gọi đò, con gọi mẹ ơi !
Trên bến sông này
ngày xưa mẹ tắm
Nước tận đầu nguồn
chảy ra biển lớn
mang theo phù sa
từ sữa mẹ ngọt ngào
 

Đau đáu bên lòng
một khúc ca dao
Chợ sớm chợ chiều dãi dầm đời mẹ
Thân cò dạt trôi
bao mùa dâu bể
Đời mẹ buồn đứng tựa bờ ao

Con trở về lặng lẽ
non cao
Núi vẫn xa xanh
mẹ già không còn nữa
Nghe đâu đây
có tiếng ai vừa gọi
Bếp lửa ngời lên
trong mắt mẹ đang cười
 

Không gọi đò, con gọi mẹ ơi !
Sông thì hẹp
mà vô bờ đến vậy
Con đi qua
hết một thời trai trẻ
Từ chiếc đò lòng mẹ
Qua sông

Ôi con đò lòng mẹ
mênh mông !
 

Cuối tháng 3.2009

Như là em là mẹ

2009-03-21 @ 20:22 in Tác Phẩm Thơ


Tôi đến với dòng sông
Như đến với ngọn nguồn
Sông khác gì lòng mẹ
Chảy dọc suốt đời tôi

Tôi đến với dòng sông
Như thể đến cùng em
Bài thơ tình dịu ngọt
Tôi uống cạn môi mềm

Tôi đến với dòng sông
Là đến với lòng tôi
Đời bao nhiêu dáng chảy
Sông chỉ một dòng thôi

Chỉ một dòng vô tận
Qua lưng núi chân đồi
Qua bao nhiêu ghềnh thác
Như mỗi ngày đời tôi

Như là em là mẹ
Đến với tình yêu tôi
Sông muôn đời vẫn thế
Một dòng xanh êm trôi.

Chùm thơ Trăng nhân ngày Nguyên tiêu

2009-02-08 @ 12:12 in Tác Phẩm Thơ

Ảnh : Nhân đêm thơ Chào Nguyên Xuân do Hội Nhà văn thành phố Đà Nẵng tổ chức tại công viên 29/3 tối qua, ngày 7.2.2009 ( nhằm ngày 13 tháng Giêng âm lịch ), ca sĩ Xuân Đề hát bài Xuân muộn của nhạc sĩ Nguyễn Duy Khoái ( phổ thơ Nguyễn Ngọc Hạnh ). 
 

 

Bóng trăng

Vầng trăng hư ảo
trong chiều
Dạt trôi
và dạt trôi nhiều dạt trôi

Hoàng hôn
ngậm cỏ cùng tôi
Bóng trăng xa
có ngậm nguì bóng ai

Nuí ngồi
đợi đến tinh mai
Tôi ngồi một bóng
bên ngoài trùng khơi

Bóng trăng
cùng với bóng tôi
Khuất trong bóng nuí
gặp lời cổ nhân.

Dưới trăng

Vầng trăng đầu tháng xa xôi
Dưới trăng cây cỏ cùng tôi sững sờ
Vẫn là cổ tích hoang sơ
Vẫn trăng, trăng cuả bây giờ đó thôi

"Vầng trăng ai xẻ làm đôi"
Câu thơ hao khuyết một thời còn đây
Lâu rồi đâu dễ ai hay
Trăng non trăng vẫn tròn đầy vầng trăng.


hanh28.jpg   

Đêm trăng bên mộ Hàn Mặc Tử


Dưới trăng cùng Kazik


Ông ngồi lặng yên không nói gì
Mờ sương Mỹ Sơn trời khuya dần buông
Gió ru lời xưa cỏ cây điêu tàn

Tôi đâu có nói gì cùng Kazik
Mà sao đền tháp cứ nhìn tôi
Mà sao vũ nữ Chăm ngưng múa hát
Thần Shiva níu thời gian trôi dạt

Ông chạm vào đá hồi sinh
Những mất đi, sanh nở
Dưới lớp rêu mờ tỏ
Lấp lánh hơi ấm bàn tay Chămpa trong đó

Những đền tháp và những vụn nát
Giữa thung lũng trần gian
Như con tò vò chằm vá cần mẫn
Nỗi niềm say mê tạo tác

Phải chi tôi đừng nói gì
Vầng trăng kia sẽ trò chuyện cùng ông
Cổ tháp kia sẽ lặng lẽ cùng ông
Về những đổ vỡ trinh bạch
Những vụn nát đền đài

Ông ngồi lặng yên không nói gì
Nhìn vầng trăng trên tháp
Tạc câu ca Chăm lên ngực
Chạm vào điệu múa đất đai

Làm sao có thể kiệm lời
Trước thần Shiva và tượng mất đầu
Giữa hằng hà thiện ác.

---------------------------
( Post lại bài thơ này để tưởng nhớ ông )

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10  Sau»
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10  Sau»